“Thảm họa” Lệ Rơi: Đừng nhầm lẫn nghệ thuật và giải trí

“Thảm họa” Lệ Rơi: Đừng nhầm lẫn nghệ thuật và giải trí
Chủ Nhật, 06/07/2014 22:14

Nhạc sĩ Trần Minh Phi

Từ những cái bẫy bản năng tự nhiên và cái bẫy ý đồ giăng ra, cuối cùng cả quần chúng lẫn truyền thông đều tự sập bẫy của nhau, tạo nên một bộ mặt văn hóa nhếch nhác và cẩu thả
Gần đây, 2 hiện tượng xuất hiện đã gây xôn xao và tạo nên hiệu ứng xã hội rất cao trong làng giải trí cả nước. Đó là sức hút của nhân vật Hoài Lâm từ game show truyền hình Gương mặt thân quen, phát sóng trên VTV3 và Lệ Rơi từ mạng xã hội. Hai hiện tượng này cho thấy trình độ dân trí của một số người và bản lĩnh của một bộ phận truyền thông đã dần dần tiệm cận xuống đáy của văn hóa.

Từ cái bẫy của dân trí thấp

Hoài Lâm tạo nên cơn sốt là nhờ khả năng bắt chước giống như thật và đầy biến hóa qua nhiều gương mặt nghệ sĩ khác nhau khiến đa số công chúng ngưỡng mộ và tôn vinh như một hiện tượng nghệ thuật mới.

Trong khi đó, với giọng hát “sát âm nhạc” qua hàng trăm bài cover và hình ảnh xấu xí, âm thanh hạng bét bằng sự đầu tư không chi phí, Lệ Rơi đã tạo nên lượng người xem kỷ lục trong một thời điểm. Lệ Rơi qua mặt cả các ca sĩ thị trường hàng đầu được mệnh danh là “diva”, “ông hoàng” có sản phẩm đầu tư tiền tỉ.

Phân tích thế nào từ 2 hiện tượng đó? Nó có giá trị thế nào mà đã tạo nên được hiệu ứng đồng cảm và thưởng thức của một bộ phận quần chúng?

image

Lệ Rơi bước vào phòng thu chuyên nghiệp Ảnh: Internet

Khi bạn vẽ một bông hoa như thật, người ta sẽ khen quá hay! Bạn vẽ một con mèo giống như đúc: Quá khéo! Bạn vẽ một cánh đồng như ảnh chụp: Quá tuyệt! Nhưng tuyệt nhiên, đó không phải là nghệ thuật. Bởi lẽ, những công phu, kỹ xảo của bạn chỉ tạo ra thêm một bông hoa, một con mèo, một cánh đồng mà cuộc sống đã có để nhìn cho vui mắt, vui lòng và đi ngủ. Nghệ thuật là tạo ra một cái gì đó mà cuộc sống chưa có khiến ta thức tỉnh và suy nghĩ.

Vậy thì đừng nông cạn, ngây ngô mà ca tụng rùm beng một nhân vật nào đó bắt chước y hệt một nghệ nhân, một ca sĩ hay một tài năng đã có. Hoài Lâm chỉ là một người giúp vui khéo léo và tinh xảo. Một người thợ đáng yêu tạo nên những phút giây sảng khoái, vậy thôi. Gọi những người như Hoài Lâm là “tài năng nghệ thuật” là xúc phạm nghệ thuật thông qua sự rêu rao dân trí thấp của mình.

Hãy để thời gian làm công việc định chất và định danh của nó. Nếu sau này Hoài Lâm thoát ra được những cái bóng mà anh bắt chước rất giỏi, rất khéo để tạo nên một hình tượng mới không lặp lại và có sức hút sáng tạo thì lúc đó, sự tung hô nêu trên mới đúng đối tượng.

Còn với Lệ Rơi thì sao? Anh ta không bắt chước ai hết. Đúng là anh ta đã tạo nên một hình tượng mới chưa từng có trong showbiz nhưng rất tiếc là không thiếu trong các quán karaoke, quán hát với nhau hay các bàn nhậu vỉa hè khắp cả nước của những tay bợm nhậu mê hát nhưng không biết nhạc hoặc không năng khiếu lại cộng thêm chất men rượu làm ríu lưỡi.

Vậy tại sao Lệ Rơi tạo được “thương hiệu” khủng khiếp như thế? Bởi anh ta là người đầu tiên hát dở nhất – giai điệu – và tầm bậy nhất – phát âm – nhưng hồn nhiên dám khoe những cái đó ra một cách chất phác và vô tư. Có thể thấy ngay người ta nghe Lệ Rơi hát không phải để nghe hát và càng không phải để nhìn anh ta như nhìn các “hot boy”, “hot girl” trong các MV (video ca nhạc) chuyên nghiệp. Đơn giản là họ nghe và xem để cười.

Như vậy, kiểu ca hát của Lệ Rơi chỉ là một trò hề rất hợp gu thị hiếu giải trí thấp kém đang đầy rẫy hiện nay. Một thị hiếu tuột đáy, cả thèm chóng chán đang quá bội thực với trai đẹp, gái đẹp “hát hay nhân tạo”, nay quay qua đổi món với cực tương phản là xấu và “hát dở tự nhiên”, nhất là dở một cách hạng bét.

Đánh đồng khái niệm

Chúng ta đừng quên hiện nay, khái niệm nghệ thuật đã trở nên không biên giới, không còn như quy định trong 7 môn nghệ thuật từ thời cổ đại. Bất cứ cái gì cũng có thể trở thành nghệ thuật kể từ lúc chủ nghĩa Đa Đa ra đời từ cái chậu đi tiểu của Marcel Duchamp được đưa ra triển lãm vào năm 1917 với tên gọi thanh tao hơn: “Đài phun nước”.

Sau đó vài thập niên, với những tác phẩm âm nhạc là sự im lặng của diễn tấu và âm thanh là tiếng động ngẫu nhiên của hoàn cảnh (tác phẩm: 4’33) hoặc toàn tiếng ồn hỗn tạp của 12 chiếc radio phối âm tự nhiên do John Cage đề xướng (tác phẩm Những hình ảnh tưởng tượng No4), lúc này nghệ thuật đã mở rộng vô biên.

Nhưng để tạo nên những tác phẩm kiểu tự nhiên, trần tục như trên là việc làm của một thứ chủ nghĩa nghệ thuật có hệ thống lý luận và cố tình tạo ra ý đồ nghệ thuật bởi những nghệ sĩ lão luyện tay nghề trong chuyên môn của họ. Còn với Lệ Rơi, anh ta không lý luận và cũng không cố tình tạo ra cách hát thọt lét người nghe mà đơn giản chỉ do hát dở trời sinh, do không có khả năng âm nhạc và chỉ là một con số 0 về ý tưởng nghệ thuật.

Cái bẫy dân trí thấp đã khiến nhiều người nhầm lẫn và chỉ quy nghệ thuật vào tiêu chuẩn duy nhất: Giải trí, tệ hơn nữa là giải trí rẻ tiền. Đáng sợ hơn, nó càng tăng thêm hiệu ứng cấp số nhân nhờ vào cái bẫy truyền thông

Mọi sự trở nên bị thổi phồng và đánh đồng hơn nữa khi một bộ phận trong giới truyền thông thò cái vòi bạch tuộc của mình vào bằng sự khủng hoảng tự thân về trình độ và bản lĩnh của người làm báo cùng cơn đói “view” của các tờ báo mạng, nhất là những tờ báo được liệt vào hàng “lá cải”. Họ lao vào bằng các bài viết nông cạn và thiếu hiểu biết về nghệ thuật, đánh đồng mọi khái niệm, kích thích thêm hiệu ứng bầy đàn ở những người dân trí thấp và kích thích tò mò ở tầng lớp dân trí không thấp để tạo nên lượt “like”, đẩy sự việc đi theo tốc độ chóng mặt với lượng chia sẻ, tìm xem trên mạng xã hội tăng lên cấp bội số.

Truyền thông trong 2 hiện tượng nêu trên đã bơm chất tăng trọng ảo vào trong đó bởi đơn giản nó là cái mồi câu lý tưởng cho những “đàn cá dư luận”. Rồi đến lượt sức mạnh dư luận lại lôi kéo truyền thông đi trong dòng chảy hỗn độn của cái gọi là thỏa mãn nhu cầu thông tin. Đến nỗi, đã có tờ báo tổ chức giao lưu trực tuyến với Lệ Rơi với tư cách là người nổi tiếng. Cũng không hề chậm chân, cả một thương hiệu karaoke mới đã nhảy vào khai thác triệt để sức hút Lệ Rơi bằng cách dùng anh này làm hình ảnh “đại sứ” cho thương hiệu của mình!

Từ những cái bẫy bản năng tự nhiên và cái bẫy ý đồ giăng ra để bẫy lẫn nhau, cuối cùng cả quần chúng lẫn truyền thông đều tự sập bẫy, tạo nên một bộ mặt văn hóa nhếch nhác và cẩu thả của mình. Tất nhiên, hiện tượng này sẽ không tồn tại nổi thêm vài tuần nữa. Nó sẽ biến mất rất nhanh khỏi mặt bằng dư luận lẫn truyền thông sau khi đã được “tế thần cười” bởi bất cứ cái gì không tồn tại bằng giá trị và nội lực tự thân thì sẽ mau chóng bị quên lãng.

Hy vọng “thoát đáy”

Với hiện tượng Lệ Rơi, thị hiếu giải trí của một bộ phận công chúng đã rơi xuống tận đáy thì chắc chắn sẽ không còn chỗ nào để rơi tự do tiếp nữa. Như vậy, chúng ta có quyền hy vọng nó sẽ sớm thoát khỏi cái đáy văn hóa kém cỏi này để bắt đầu ở những vị thế cao hơn trong tương lai. Không dám chắc là ở đẳng cấp nào nhưng “thoát đáy” là sẽ bắt đầu!

 

NGHỊCH LÝ VĂN CHƯƠNG VÀ THÔNG ĐIỆP ĐẪM MÁU

(Nhân đọc “PGS.TS. Phan Trọng Thưởng: Để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn”

đăng trên vanvn.net ngày 19.4.2014)

Hà Nhân

 

Bài nhận xét luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan do PGS.TS Phan Trọng Thưởng viết khá dài, ước chừng khoảng 10 trang A4. Đọc đi đọc lại thì thấy có nhiều chỗ “bi hài thống thiết” nên phải viết ra đây, coi như lời tản mạn, nhàn đàm của một “thảo dân” biết chữ.

 

1. Nghịch lý thứ nhất: Luận văn phức tạp, còn lời nhận xét thì đơn giản ngoài sức tưởng tượng.

 

Tôi cho rằng luận văn của Đỗ Thị Thoan rất phức tạp trên nhiều phương diện: vấn đề phức tạp, phương pháp phức tạp, câu chữ phức tạp, kết luận phức tạp, dư luận phức tạp.

Vấn đề phức tạp: vì đối tượng nghiên cứu không chỉ là nhóm Mở Miệng và thơ của nhóm này mà là vấn đề “thực hành thơ” dưới góc nhìn “văn hóa”. Không thể phiên dịch “thực hành thơ” chỉ là làm thơ (bởi nội hàm nó rộng hơn, còn có nghĩa là “nghịch thơ”, “chơi thơ”, v.v…), ở đây cần hiểu là một hành vi sáng tạo chưa định danh, một xu thế về thể loại. Nghiên cứu một xu thế văn chương cũng giống như giải một bài toán về quĩ tích, tìm một điểm M vô hình nào đó luôn động của một tập hợp điểm, phức tạp quá chứ còn gì.

Phương pháp phức tạp: cách tiếp cận và giải quyết vấn đề trong trường hợp này đòi hỏi một phương pháp liên ngành ở chiều sâu (đòi hòi quá nhiều tri thức vệ tinh như lý thuyết thơ đương đại, lý thuyết hậu hiện đại, triết học hậu hiện đại,…), đồng thời phải có bản lĩnh về loại hình học. Chỉ cần đặt câu hỏi thơ nhóm Mở Miệng có phải là thơ không, thì toàn bộ luận văn đã có nguy cơ đổ. Vì thế, cô Thoan thông minh đã đặt “Mở miệng” vào “góc nhìn văn hóa”, vào thế “thực hành”. Đó là cách “thoát” của cô. Xét về bản lĩnh học thuật, cách thoát đó cũng đã đủ làm chứng cho trình độ thạc sĩ của cô rồi.

Câu chữ phức tạp: Cô Đỗ Thị Thoan dùng rất nhiều câu ghép, câu phức, phương tiện liên kết câu linh hoạt, trích dẫn trùng điệp, trộn lẫn câu nghi vấn và câu khẳng định khiến người không quen đọc rất khó tiếp cận. Chưa kể những dẫn chứng về tác phẩm của nhóm Mở Miệng cũng thuộc loại ngôn từ khó đọc.

Kết luận phức tạp: Tuy cô Thoan có viết phần kết luận trong luận văn (theo nguyên tắc trường qui đối với luận văn cao học) nhưng vấn đề về Mở Miệng không thể kết luận, vì tính đương đại của nó, và vì bản chất khoa học xã hội, nhân văn không phải là thứ dễ đi đến một kết luận cuối cùng. Cái thông minh của cô Thoan lại nằm ở mấy câu hỏi.

Dư luận phức tạp: Cô Thoan viết luận văn khi mà trước đó, trong khi đó, và sau này, những đánh giá về nhóm Mở miệng vẫn còn phân hóa cao độ.

Với một núi phức tạp xoay quanh đề tài, có thể nói rằng, luận văn của cô Thoan được viết bằng tất cả sự “ngây ngô chính trị” của một người trẻ ham hiểu biết, ham đọc, ham nghĩ, ham trình bày và diễn giải, ham đặt vấn đề, ham ngắm mình qua vấn đề mà mình tâm đắc đến cao độ. (Tôi phải dùng từ “ngây ngô chính trị” trong ngoặc kép để đối lập cái nhận xét của ông Thưởng dành cho cô Thoan là “kích động chính trị”. Nếu muốn kích động, thì hỡi ôi, Thuyên ơi là Thuyên, dại gì mà viết hàng trăm trang trong một bài tập luận văn để người ta đánh giá, chấm điểm, công bố?). Cô Thoan nói về chính trị bằng sự ngây ngô trong thái độ (sống) và sự già dặn trong nhận thức học thuật (trong tình huống nghiên cứu của cô). Cái “ngây ngô” của cô Thoan rất gần với sự hồn nhiên. Cô không biết (hoặc không chú ý rằng) việc chọn lựa đối tượng nghiên cứu và cách viết của mình sẽ “chạm nọc” một thiết chế cằn cỗi, một hệ thống báo động thuần thục, một cảm hứng “truy xét” vốn tràn trề trong cái bầu khí quyển xứ này.

Ngược lại, người nhận xét (là Phó Giáo sư Phan Trọng Thưởng) lại có vẻ “già dặn” trong thái độ (sống) và “ngây ngô” trong nhận thức học thuật. “Già dặn” vì ông chấm luận văn nhưng toàn nói chuyện “quốc gia đại sự”, ngỡ như giọng của một người “ưu dân ái quốc” xa xưa. “Ngây ngô” vì chỗ cần phân tích thì ông không nói, chỗ cần lý luận thì không bàn, ông chỉ nói cái ông đã “đinh ninh”, cái ông nghĩ trước rồi đặt vào “cho tiện” (một phong cách rất chuẩn “quan cách”). Ông trích dẫn nhiều nhưng không mổ xẻ (chắc ông cũng ngại!), trích dẫn nhiều đến nỗi thi thoảng người đọc có cảm giác ông cũng …ngầm thích mấy cái dẫn chứng đó hay sao (?!), hoặc không đủ sức phân tích cái đống ngôn từ ngồn ngộn mà ông trót trích ra. Thế không “ngây ngô” thì gọi là gì?

Cô Thoan không thể nhân danh một quyền lực chính trị nào để viết (vì làm sao có được một quyền lực nào?). Cô Thoan lập luận nhiều hơn kết luận (vì cô phải cố gắng viết để còn ra bảo vệ trước hội đồng học thuật). Còn ông Thưởng thì không nhận xét mà phán xét (vì ông được cho và tự cho mình quyền đó), không lập luận mà kết luận (vì ông không có thời gian và trình độ để thông diễn). Thái độ hai chiều trong tương quan người viết-người đọc ở đây là rất “bí hiểm”.

Mà mấy cái câu kết luận của ông, hình như câu nào cũng có vấn đề. Ví dụ: “Với quan điểm lựa chọn như trên, có thế nói luận văn đã tập trung nghiên cứu một hiện tượng nổi loạn, không chính thống, một hiện tượng bên lề, một dòng ngầm không chỉ mang ý nghĩa văn chương đơn thuần mà còn mang ý nghĩa chính trị phản kháng, phản động”. Sao vậy? Sao “một hiện tượng nổi loạn, không chính thống, một hiện tượng bên lề, một dòng ngầm” thì lại “mang ý nghĩa chính trị phản kháng, phản động”? Chắc ông lo làm chính trị nên quên cách viết văn sao cho có nghĩa. Viết như thế làm gì có nghĩa gì. Một số kết luận khác trong bài nhận xét của ông Thưởng:

“Đó là những luận điểm sai trái mang tính kích động chính trị rõ rệt”

“đây là chương được xem như cơ sở lý thuyết, như là khung lý luận của luận văn”

“Về thực chất đây là một luận văn chính trị trá hình, văn chương chỉ là cái cớ”.

“Trong bối cảnh cuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra khá phức tạp hiện nay, nếu để lưu hành luận văn này sẽ gây tác hại không chỉ đến văn học, nghệ thuật mà còn gieo rắc những tư tưởng nổi loạn, chống đối, gây mất bình ổn trong đời sống chính trị, tư tưởng, tác động tiêu cực tới thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên trong nhà trường”.

Về mẫu câu, ta thấy chủ yếu ông dùng mẫu: “Đây là”, “Đó là” (vì nó rất dễ dùng). Ở câu cuối cùng, ngữ pháp tiếng Việt được ông sử dụng “loạn xạ”, ai hiểu được thì hiểu.

Viết như thế, hoặc là ông không thể suy nghĩ được nữa, do tuổi tác, do lạm dụng hay ám ảnh quá khứ quyền lực, hoặc là ông quen với một số “mẫu câu cơ bản” được rèn luyện qua mấy đợt học chính trị cao cấp, dùng để đọc người khác, cái khác, hoặc ông mất khả năng liên tưởng về ngôn từ. Cái nào cũng nguy hại quá chừng!

Dùng một cách viết đơn giản, ngây ngô như một nắm tay sắt để đối chọi lại một hiện tượng học thuật vô cùng phức tạp, đó là “bản lĩnh chính trị” của PGS Thưởng hay thói quen “viết lách” của ông từ trước đến nay? Câu hỏi này làm tôi nghĩ mãi.

 

2. Nghịch lý thứ hai: Luận văn viết theo phong cách khá nghệ sĩ, bản nhận xét thì có màu sắc lời nghị án của tòa.

 

Luận văn được viết trong tâm thế cho một người đọc lý tưởng – người đọc được đón đợi nhiều nhất trong tâm lý người viết. Điều này cũng là bình thường. Ai cũng biết đó là qui luật của tâm lý tiếp nhận, mỹ học hồi đáp. Nói như thế để thấy sự đam mê quá đà của cô Thoan trong quá trình viết luận văn. Nhưng đọc kỹ luận văn thì mới thấy là không phải cô đam mê chính nhóm Mở miệng mà cô đam mê những hiện tượng tinh thần và các rắc rối của nhóm Mở miệng xoay xung quanh những dự cảm và hệ lụy của kiểu sáng tác này. Cô đam mê đến mức viết luận văn mà như viết thơ, viết tùy bút, nhiều chỗ phóng bút mạnh mẽ, liều lĩnh để chờ đợi những tri âm của mình. Và đó cũng là điều mà Hội đồng chính thức cách đây hơn 3 năm đã trân trọng đánh giá cô. Điểm 10 của cô là điểm 10 của tiềm năng, hứng khởi chứ không phải là một sự xác quyết về tài năng tuyệt đối hay sự xác lập thái độ phe cánh chính trị. Đó là cái lý của Hội đồng chính thức lần 1. Họ có quyền nghiêng về quan điểm phóng khoáng, nghệ sĩ hay chặt chẽ, kín kẽ trong quá trình đánh giá, phản biện. Sự chênh lệch về điểm khi nghiêng về quan điểm này hay quan điểm khác hoàn toàn nằm trong cái khung đảm bảo những đúng đắn về tiêu chí đào tạo sau đại học; cho nên kết quả của Hội đồng lần 1 không có bất kỳ lý do gì để bị phủ quyết. Họ còn xa lắm mới “thấp xuống” thành cái gọi là “ổ phản động” như nhận định của ai đó trong cuộc chiến nóng hổi “đánh Nhã Thuyên” đã (và đang) diễn ra.

Nhưng có vẻ như ông Thưởng không thuộc vào số người đọc lý tưởng của cô Thoan (đương nhiên, mà ông cũng không muốn thế chút nào!). Ông thuộc vào “số khác”.

Tôi rất lấy làm lạ kỹ năng “đọc nhanh”, “đọc lướt” của PGS Phan Trọng Thưởng (và ngờ ngợ hay giáo sư không quen đọc tiếng Việt, nhất là mấy câu phức khó, dài?). Cô Đỗ Thị Thoan chưa bao giờ từ nhận mình là “chính trị đội lốt văn chương”. Nhưng ông Thưởng thì chắc như đinh đóng cột: “Như tác giả luận văn đã tự xác nhận, đây là một luận văn “chính trị đội lốt văn chương””. Nguyên văn đâu phải thế, cô Thoan viết là: “Câu hỏi đây là sự cách tân văn chương mang tính chính trị hay là hành vi chính trị đội lốt văn chương thấm đẫm nguyên lý ý thức hệ và sự lệ thuộc vào một từ chính trị được cắt nghĩa hẹp hòi: Tại sao các anh không cứ cách tân đi, bởi văn chương mới chính là lĩnh vực của anh? Tại sao phải lên tiếng về chính trị và bình luận xã hội? “Nay ở trong thơ nên có thép” có chính trị không? Không phải chúng ta đã bội thực thứ văn chương (phục vụ) chính trị rồi sao?”. Ôi ông Thưởng ơi, đời thuở nhà ai lại có người ngu dại thế, lại tự nhận mình là “chính trị đội lốt văn chương” làm gì cho khổ. Cô Thoan cô ấy nói rằng nếu như đặt hai câu hỏi đối với hiện tượng nhóm Mở Miệng: 1 là “cách tân văn chương mang tính chính trị”, 2 là “chính trị đội lốt văn chương” thì cả hai câu hỏi đó đều bị hạn hẹp bởi cách hiểu thô thiển về chính trị. Sau đó, cô ấy đặt ra mấy câu hỏi mở rộng. Mà mấy câu đó đều xoay quanh vấn đề bản chất của văn chương là gì? Mối quan hệ giữa văn chương và chính trị thực chất là gì? Cô Thoan quan tâm điều đó, chứ cô Thoan không gọi làng nước tới hoặc be be lên chứng minh mình là cừu đen lạc trong đám cừu trắng đâu.

Cái nghịch lý bi hài cao độ của vụ Nhã Thuyên là: Hội đồng chấm luận văn lần thứ nhất (chính thống về học thuật) là một sự hợp nhất của cái nhìn nghệ sĩ (tất nhiên nghệ sĩ tuyệt đối trong học thuật thì cũng có mặt hay dở của nó). Hội đồng thứ hai (chính thống về chính trị) là một sự “thăng hoa” của uy quyền. Điểm 10 được biểu quyết là sự cộng hợp các trạng thái nghệ sĩ của người viết, người chấm. Còn kết luận hủy diệt là sự đồng tình nhất trí của những người “bảo hoàng hơn vua”, quyết tâm sống mái chấm dứt những “thăng hoa” … không giống mình.

 

3. Nghịch lý thứ ba: Luận văn thực sự là một hiện tượng trong nghiên cứu và giảng dạy văn học đương đại, bản nhận xét là một “hiện tượng ăn theo” có khả năng “nổi tiếng” hơn “chính chủ”.

 

Có thể nói, đến giờ phút này, PGS. TS. Phan Trọng Thưởng “nổi tiếng ngoài dự kiến”, đi vào lịch sử ngoài dự kiến. Ông có đến mấy cái nổi tiếng hơn người. Trong danh sách tham gia “thẩm định lại” luận văn cô Đỗ Thị Thoan, ông là người từng có địa vị danh giá nhất (Viện trưởng Viện Văn học). Đó là cái nổi tiếng thứ nhất. Danh giá thế mà lại dự phần vào cái “cuộc nhiễu nhương” này. Đó là cái nổi tiếng thứ hai. Tham gia chấm lại xong, ông rất bình tĩnh đưa bài nhận xét lên báo mạng (tất nhiên là báo chính thống của Hội Nhà văn Việt Nam). Đó là cái nổi tiếng thứ ba. Bài nhận xét, đứa con tinh thần của ông, giờ phiêu bạt chân trời nào, bị thiên hạ đối xử ra sao, chắc ông không thể lường nổi, không thể lường hết. Đó là cái nổi tiếng thứ tư của ông. Và chắc là ông còn được nhắc đến nhiều nữa như một “huyền thoại” của “kỳ tích” đào tạo đại học xứ Việt.
4. Nghịch lý thứ tư: Người viết luận văn thì say cuồng văn chương, người viết nhận xét thì mê mẩn uy quyền

 

Cô Đỗ Thị Thoan quả là say nghề say chữ. Có lẽ phong cách viết của cô Thoan đã chiếm được cảm tình Hội đồng lần 1 bởi tính chuyên nghiệp và bản lĩnh ngôn từ. Cô Thoan không viết luận văn như học trò làm bài tập mà viết như một trí thức có nhiều suy nghĩ trưởng thành, sắc sảo, có một trình độ diễn đạt nhuần nhuyễn. Đó là một sự khác biệt không thể bỏ qua. Nhưng cô cũng là nạn nhân của chính mình. Cái sai lớn nhất của Nhã Thuyên là (có lẽ do quá say viết) đã chọn nhầm điểm-rơi-thái-độ với đối tượng nghiên cứu của mình: đẩy thực hành thơ của Mở miệng lên góc nhìn mỹ học (Không phải bất kỳ một hiện tượng thực hành thơ nào cũng có một nền tảng mỹ học hoặc có khả năng xây dựng một mỹ học cho mình. Ngay nhóm Xuân Thu nhã tập với hoài bão làm nên một mỹ học về Đạo, về sự trong sáng của thơ, cũng chấp nhận dở dang và không thể xem là đã có một mỹ học, huống gì những bước đi tìm kiếm và bề bộn của Mở miệng). Đó mới là cái lệch lớn nhất của luận văn. Cái lệch ấy, nếu có thể gọi là sai, thuộc về cái sai của một đẳng cấp học thuật, chứ không phải cái sai của tư cách công dân.

Thế nhưng, trong khi người viết say mê văn chương bao nhiêu thì người chấm lại mê mẩn việc tiêu diệt văn chương bấy nhiêu. Cái uy quyền mà PGS Thưởng thể hiện trong bài nhận xét thể hiện ở lượng từ vựng “an ninh” được dùng một cách hào hứng và kiên trì. Đặc biệt, như trên đã phân tích, luận văn được trích trong bài nhận xét rất nhiều (chắc là phải đến gần 80% lượng chữ), không cân đối một chút nào với mấy lời điểm chú rất “quái dị”, tối tăm của ông giáo sư.

Chỉ có sự uyên bác, tài năng và niềm tin vào chân lý học thuật mới là quyền lực cao nhất và cần có nhất ở môi trường trí thức. Ngoài ra, mọi “quyền lực khác” đều là lố bịch.

Trong cuốn tiểu thuyết Vạn Xuân viết về Nguyễn Trãi của một tác giả người Pháp Yveline Féray, tôi nhớ có một câu như thế này: “Bi kịch của Nguyễn Trãi là bi kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội nhỏ bé”. Cái thước thì ngắn mà đo những thứ quá cao quá dài – sự thật đó là bi kịch của cái thước hay bi kịch của cái thứ cao dài kia? Nguyễn Trãi bi kịch vì sinh ra ở Việt Nam, hay Việt Nam bi kịch vì đã giết Nguyễn Trãi? Một môi trường học thuật mà quan hệ giữa thầy và trò trở thành quan hệ dân – quan, quan hệ tử tù và thẩm phán thì hỡi ôi, trước khi cái thước ngắn cũn cỡn kia lâm vào bi kịch bất lực, nó cũng giết đi bao nhiêu thứ dài cao vô hạn; nó đo hết và trảm hết những cái vượt ra ngoài cái nó đo. Ai đã đẻ ra cái thước đó, và ai cho nó quyền được đo tất cả?
5. Nghịch lý thứ năm: Nhan đề phản chủ

 

Có lẽ ông Phan Trọng Thưởng suy nghĩ rất cẩn trọng để chọn một nhan đề rất nhã nhặn, lịch sự trong bối cảnh “dầu sôi lửa bỏng” hiện nay: “để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn”. Song, chẳng hiểu thế nào mà nội dung bài viết ấy lại làm người đọc hiểu rõ hơn thực chất về… PGS.TS Phan Trọng Thưởng! Đó là sự diễn tiến của chữ nghĩa ngoài đoán định của PGS. Nếu như thế thì chính chữ nghĩa của ông đã nổi loạn với chính ông. Vậy, chẳng phải “nổi loạn là điều kiện để sáng tạo hay sao”, thưa ông? Vậy, sao ông lại bức xúc khi người khác nói về sự “nổi loạn”?
6. Nghịch lý thứ sáu: Viết về “Mở miệng” nhưng bị bắt “Im mồm”

 

Cô Đỗ Thị Thoan hẳn không thể tưởng tượng nổi một kết cục cười ra nước mắt: luận văn viết 3 năm được thông qua bây giờ bị hủy, hào hứng viết về “Mở miệng” thì bị tịch thu, đuổi việc và bắt “im mồm”…

Khi viết bài này, tôi luôn ám ảnh trong đầu ông Phan Trọng Thưởng là một “thiên sứ”, hoặc một “sứ giả” mang thông điệp từ một Đấng nào đó để đáp xuống cái Khoa Ngữ văn của Đại học Sư Phạm Hà Nội đang bề bộn bao nhiêu vấn đề… Đúng như cái tên ông vậy, một sự “trọng thưởng” từ phía nào đó vô hình trên cao dành cho cương vị ông có, cho tiếng nói ông nói. Ông viết nhận xét như dạo một bản “nhạc thánh”, tuyên bố về luận văn như tung chiếu chỉ!

Không một trí thức đích thực nào ở nước Việt Nam này không biết đến vụ án Nhân văn Giai phẩm hồi giữa thế kỷ XX; Gọi là một cuộc chơi cũng đúng, một cuộc chiến cũng đúng, một lỡ lầm, một quá đáng, một ăn năn, một uất nghẹn…, đều đúng! Chắc chắn rằng bao nhiêu con người ngậm khối tinh thần đau đớn đem chôn xuống ba tấc đất ngày ấy cũng đã thấm thía những tờ “thánh chỉ” có một không hai kiểu như “bản nhận xét thẩm định” của ông Thưởng. Những thông điệp bên ngoài có vẻ lịch sự, nhã nhặn, trịnh trọng tựa như lời của kẻ “cầm cân nảy mực” cho sơn hà lại chứa đựng nhiều dự cảm đẫm máu (như đã từng xảy ra).

Văn chương, nghệ thuật không nhất thiết phải trở thành nạn nhân trong bất cứ thời đại nào, cũng như không có quy luật nào cho phép khoa học là nạn nhân của thần học cực đoan. Nhưng sự thật là: khoa học vẫn từng chết dưới tay thần học, văn chương vẫn bị chính trị hành quyết. Những cuộc “tuẫn tiết” diễn ra trong quá khứ đã chứng minh rằng khi một nền văn nghệ sống trong sự kiểm duyệt của “văn hóa công an” thì bề nào nó cũng trở thành nạn nhân. Hoặc là nó “vinh dự” trở thành một nạn nhân tự nguyện, tự mình cắt cụt chiếc cánh tự do vô tận, hoặc là nó cam khổ trở thành một nạn nhân bị cưỡng bức, mọc chiếc cánh tự do như một “quái thai” bay tới một chân trời mà điểm dừng của nó là những song sắt nhà tù lè tè dưới mặt đất.

PGS.TS Phan Trọng Thưởng thật “dũng cảm” khi công bố bản nhận xét của ông (“Dũng cảm” trong nhiều nghĩa!). Vậy là vẫn còn những bản nhận xét khác nữa (vì Hội đồng thẩm định đâu chỉ một người). Ai quyết được rằng hàng tá lời thẩm định trong bóng tối kia sẽ không dắt díu tới những ngày buồn đẫm máu một thời của “nạn chữ nạn văn”…?

22.4.2014

 

 

Giữa bãi hoang, ngó về đền đài

ĐĂNG BỞI TUẤN KHANH – 08:00 13-04-2014

Ngay khi có tin xác định ca sĩ Khánh Ly về nước trình diễn, có thể là buổi duy nhất, ngày 9.5 ở Hà Nội, đã có không ít lời khen tiếng chê lao xao. Và trong đó, không ít lời bình phẩm rằng “thật vô lý khi bỏ ra một số tiền rất lớn để vào nghe một tiếng hát nay đã… phều phào”.
Không thể không nhìn thấy đó là một quan điểm hết sức thực tế. Rõ ràng việc dùng số tiền bằng cả tháng lương của một người bình thường để vào nghe một tiếng hát nay đã 70 tuổi, thì thật lạ.
Ban tổ chức chương trình biểu diễn của ca sĩ Khánh Ly cho biết, giá vé thấp nhất là 900 ngàn, còn cao nhất là 3,5 triệu đồng. Đó là chưa nói đến những loại vé ủng hộ và tài trợ riêng.

Cái giá của cuộc thương thuyết để ca sĩ Khánh Ly trở về Việt Nam trình diễn, ở mọi mặt là không đơn giản. Có thể nói là phức tạp nhất trong mọi trường hợp ca sĩ người Việt hải ngoại về nước biểu diễn từ trước đến nay.
Thậm chí để có được ngày diễn chính thức trong năm 2014, nhà tổ chức và ca sĩ Khánh Ly đã thảo luận với nhau hơn một năm trong vòng bí mật. Thế nhưng ngay khi có tin giấy phép biểu diễn đã cấp xong đã có ngay những bình luận rằng “không nên trông chờ gì vào tiếng hát này”.
Ấy vậy mà đó lại là chương trình biểu diễn của một ca sĩ từng được rất nhiều nhà tổ chức liên tục ngỏ ý và đàm phán, kể từ năm 1996, tính từ khi ca sĩ Elvis Phương trở thành ca sĩ hải ngoại đầu tiên làm liveshow giữa Sài Gòn, do Trung tâm băng nhạc Rạng Đông, một công ty của người Việt trong nước tổ chức.

Lại có tin như trêu ngươi rằng nữ ca sĩ này có thể sẽ là người lập kỷ lục trong lịch sử âm nhạc Việt Nam về giá cát-sê. Sân khấu có 3.500 ghế, nếu không có gì làm thay đổi, dự kiến sẽ không còn chỗ.

Câu hỏi vang lên, tại sao?

Không phải chỉ là Khánh Ly, mà có một chuỗi dài những cái tên ca sĩ hải ngoại, vốn không còn trẻ trung gì, một thời gian cũng đã thay nhau làm náo động sân khấu ca nhạc Việt, không chỉ là người Sài Gòn, mà cả người Hà Nội cũng háo hức chờ đón.

Những đêm diễn của Chế Linh, Thanh Tuyền cũng chật cứng không còn chỗ ngồi. Thậm chí đã có những bình luận về mặt học thuật rằng đó chỉ là những tiếng hát “bình dân”, không có giá trị kỹ thuật nào.
Nhưng mặc kệ những trau chuốt thông thái, khán giả tuân theo cảm giác của trái tim, họ vẫn đến và vẫn vỗ tay không ngớt như thưởng thức một đêm nhạc vĩ đại của đời mình. Mọi thứ đó chỉ nhàm chán và nhạt dần do cách nạo vét của nền thương mại giải trí thời nay. Nhưng khi đối diện với những cái tên mới, sự hâm mộ vẫn lại bừng lên.

Khánh Ly là một trong vài cái tên hiếm hoi của âm nhạc Việt Nam trước năm 1975, còn chưa có dịp hát ở quê nhà. Những ký ức vàng son hoài niệm của một thế hệ, vẫn có giá trị như tiếng chuông vang lên trong buổi chiều tà làm người ta nhớ và thương rất nhiều thứ trong đời mình, thông qua một tiếng hát.
Giữa một nền văn nghệ hiện tại không ít hỗn loạn, với những giá trị đảo lộn, thương tích, người ta vẫn tìm cách tự chữa lành mình, bằng cách ngó về những đền đài đã mất.

Có lần ghé qua một thành phố cao nguyên, tôi nhìn thấy một người già ngồi sang và bán những chiếc băng casette, trong đó là những bài hát đã được ghi âm từ vài mươi năm trước.
Giữa một thế giới tràn đầy cái mới, đến và đi vô hồn, bất ngờ tôi chợt hiểu rằng, ở một nơi nào đó trong cửa sổ của thinh lặng của trái tim, vẫn có rất nhiều người muốn được nhìn thấy lại ban mai đời mình, muốn nghe lại, chạm được với những điều mà nay đã run rẩy già nua, nhưng tràn ngập ý nghĩa.
Tôi thấy mình cũng đã từng chết lặng ngồi ở vỉa hè, khi vô tình nghe tiếng hát Thái Thanh với một bản ghi âm sứt sẹo, hát về những đứa con lớn khôn nay không còn biết thương xóm làng, hay chùng xuống khi nghe câu chuyện chiếc thuyền viễn xứ mịt mờ trong tiếng hát Lệ Thu cũ kỹ. Âm vang đó, tạo nên hành trình vô lượng kiếp để dắt ta thoát khỏi rẻo chật chội của nơi bàn chân đứng.

Có thể vì vậy mà khi tìm về với một Khánh Ly, mặc nhiên người ta không quan tâm đến một tiếng hát có thể đã… phều phào, mà tin rằng có thể bằng nội lực truyền cảm chân thành của người ca sĩ này vẫn có thể tạo ra sự háo hức muốn đọc lại quyển sách ký ức, trong đó có Trịnh Công Sơn, có hình ảnh của ca khúc Da Vàng trên quê hương, và có cả chính mình nhỏ nhoi trong đó.
Với những cách tính thực tế, phí tiền cho một giọng hát già nua là vô lý, nhưng với sự phi thường của vô thức, cầm được chiếc vé đi về ngày hôm qua, thật xứng đáng để rung động. Chắc chắn cũng có những kiểu khán giả khác. Những kẻ học đòi, những trưởng giả làm sang, những kẻ tò mò…

Nhưng với những người yêu âm nhạc, và yêu những giá trị lớn hơn phía sau âm nhạc, đôi khi đi đến nghe một điều cũ kỹ còn là một sự kháng cự tinh thần thầm lặng. Giữa một nền văn nghệ hiện tại không ít hỗn loạn, với những giá trị đảo lộn, thương tích, người ta vẫn tìm cách tự chữa lành mình, bằng cách ngó về những đền đài đã mất.

Loại bỏ “hàng giả”, làm trong sạch thị trường âm nhạc

Hai ca sĩ Yanbi và Mr.T vừa bị Cục Nghệ thuật biểu diễn xử phạt 5 triệu đồng/người vì chế lời tục tĩu cho ca khúc Thu cuối
Hai ca sĩ Yanbi và Mr.T vừa bị Cục Nghệ thuật biểu diễn xử phạt 5 triệu đồng/người vì chế lời tục tĩu cho ca khúc Thu cuối

Không được thừa nhận một cách chính thức, cũng không được bất cứ cơ quan chức năng nào cho phép lưu hành, song nhạc “chế” vẫn ngang nhiên tồn tại và ngày càng bùng phát một cách mạnh mẽ, đe dọa nghiêm trọng tới “gu” thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ.

Trước tiên, cần khách quan nhìn nhận, việc sáng tác lời mới dựa trên nền những giai điệu quen thuộc đã xuất hiện từ lâu và không phải không có những ưu điểm. Nhiều bài hát được các thầy giáo, cô giáo thay lời đã trở thành “bí kíp” để học sinh dễ tiếp thu, nhớ kiến thức. Nhiều ca khúc được chế một cách dí dỏm, thông minh đã mang lại dấu ấn riêng cho nhiều trường đại học, cao đẳng trong các cuộc thi, màn giao lưu, chào hỏi… Hay như gần đây, một số bản nhạc chế mang tính thời sự xuất hiện nhằm giễu nhại hành động hôi bia, lên án hành vi bạo hành trẻ em của hai bảo mẫu ở quận Thủ Đức vừa qua cũng đã mang lại tác động tích cực tới nhận thức của cả xã hội… Sẽ chẳng có gì phải bàn nhiều nếu nhạc “chế” cứ thế ra đời vì những mục tiêu nhân văn cao đẹp. Nhưng đáng buồn thay, ở vào thời điểm mà âm nhạc giải trí trở nên bão hòa và nhạt nhẽo thì nhạc “chế” đã “lên ngôi” với phần lớn các sản phẩm chất chứa nội dung nhảm nhí, dung tục. Những điệu lý, điệu hò mang âm hưởng dân ca mượt mà bị xuyên tạc thành những Lý nói láo, Lý bán quán, Lý gái hư… Ngay cả những ca khúc cách mạng hay những tác phẩm âm nhạc đi cùng năm tháng cũng bị các “chế sĩ” tự do thay lời mới một cách nhăng nhít, thô thiển.

Đã xa rồi cái thời nhạc chế đi theo những chiếc xe dạo luồn lách vào các hang cùng ngõ hẻm. Giờ đây, khi mà mỗi người ít nhất đều “thửa” riêng cho mình một thiết bị kết nối mạng như máy tính, di động, ipad thì nhạc chế lan truyền với tốc độ chóng mặt như một bệnh dịch khó ngừa. Muốn kiểm chứng, chỉ cần gõ thử hai từ khóa “nhạc chế” lên Google, lập tức sẽ hiển thị con số đáng ngạc nhiên lên tới gần 37 triệu kết quả. Thậm chí, mở một forum chuyên đăng tải nhạc xuyên tạc, sẽ thấy nhan nhản những bài nhạc chế “đắt khách” với vài trăm nghìn, có khi lên tới hàng triệu lượt người nghe. Chính sự xuất hiện bát nháo, khó kiểm soát của nhạc chế đã biến thị trường âm nhạc Việt Nam trở nên nghiệp dư hóa, dẫn tới sự lệch lạc trong việc tiếp nhận các giá trị thẩm mỹ âm nhạc thực thụ. Càng đáng lo hơn khi đối tượng sáng tác, thụ hưởng và tỏ ra thích thú với những bản nhạc chế – nhạc rác đó lại đa phần là những bạn trẻ ham của lạ, thích cái mới nhưng còn thiếu định hướng trong tư tưởng, nhận thức, dễ bị ảnh hưởng và dao động. Nhạc chế thậm chí còn xâm lấn tới cả những lớp mẫu giáo, những trường tiểu học. Những chiếc miệng xinh xắn thơ ngây mải mê vô tư hát các bài chế có ca từ nhảm nhí. Thử hỏi, những tâm hồn non nớt sẽ bị đầu độc thế nào trước những lời hát méo mó, xuyên tạc như trên? Nhận thức của giới trẻ sẽ bị lệch lạc, ảnh hưởng như thế nào trước những bản nhạc chế ca ngợi việc cướp giết, cờ bạc, tù tội, mại dâm đang tràn lan trên mạng và nhan nhản trong các đĩa CD nhạc chế lậu được bán với số lượng lớn ở chợ Đồng Xuân, chợ Giời? Không những thế, sự hỗn loạn những giá trị thật giả trong thị trường âm nhạc Việt Nam còn dẫn tới sự tiếp nhận văn hóa nghệ thuật một cách cảm tính, bản năng, thiếu định hướng. Bằng chứng gần đây nhất là chuyện Yanbi và Mr.T, hai ca sĩ trẻ đang được khá nhiều fan teen hâm mộ đã thản nhiên bỏ qua Luật Bản quyền âm nhạc, tự chế lại bài hát “Thu cuối” bằng những lời lẽ tục tĩu, thô thiển. Hay sự xuất hiện clip một nhà sư trẻ vô tư hát bài chế “Kiếp đi tu” đã tạo nên một hình ảnh phản cảm, không mấy đẹp cho dư luận.

Thiết nghĩ, sự xuất hiện tràn lan của trào lưu nhạc chế không những đang cổ súy cho vấn nạn vi phạm bản quyền âm nhạc, làm xói mòn văn hóa nghe nhạc một cách có ý thức trong giới trẻ mà còn làm đau lòng những người nhạc sĩ thực thụ và công chúng yêu âm nhạc thực thụ.Hồi chuông cảnh báo cho sự lây lan của bệnh dịch nhạc chế đang gióng lên hối hả hơn bao giờ hết, nhưng đáp trả lại là sự lúng túng trong việc quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng. Tất nhiên, để thanh lọc lại nền âm nhạc Việt Nam từ một thị trường bát nháo, hỗn loạn như hiện nay là vấn đề không dễ. Các cơ quan quản lý văn hóa, an ninh cũng đã vào cuộc với những đợt truy quét băng đĩa lậu mà chẳng ăn thua. Song không vì thế mà có thể để âm nhạc Việt tự phát triển theo kiểu thả nổi. Hàng giả trong thị trường hàng tiêu dùng luôn bị tẩy chay. Vậy thì thị trường âm nhạc cũng cần kiên quyết loại bỏ các loại hàng giả. Trước sự bùng phát của nhạc “chế” trên các trang mạng, các cơ quan quản lý văn hóa cần phối hợp với các đơn vị quản lý an ninh mạng ráo riết thanh, kiểm tra các trang web, forum, mạng xã hội và có những chế tài xử lý nghiêm minh mạnh mẽ. Bên cạnh đó, cần thiết lập những đường dây nóng trong quần chúng và có chế độ khen thưởng xứng đáng với những trường hợp phát hiện, báo cáo những đường dây buôn băng đĩa nhạc “chế” lậu khiêu dâm, tục tĩu cho cơ quan chức năng kịp thời xử phạt, ngăn chặn. Theo nhạc sĩ Dân Huyền, trong lúc cơ quan quản lý còn khó kiểm soát nạn chế nhạc, để ôn hòa và tạo hướng đi cho những người thích nhạc chế, có thể tổ chức các cuộc thi viết lời cho các làn điệu dân ca để tạo ra một sân chơi lành mạnh hơn cho các “chế sĩ”, biết đâu sẽ làm xuất hiện nhiều tác giả trẻ có thế mạnh về việc đặt lời cho dòng nhạc này. Bên cạnh đó, nhà trường, gia đình cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ trong việc định hướng thẩm mỹ đúng đắn, lành mạnh cho con em mình. Có thế, thị trường nhạc “chế” mới dần loại bỏ được những bản chế vô văn hóa, làm trong sạch lại môi trường âm nhạc Việt Nam vốn đang bị nhạc “rác” lũng đoạn.

 

Hồng Trang

 

“NGƯỜI ĐÀN ÔNG ITALIA” HÓA “SAY TÌNH”: CÂU CHUYỆN VỀ DỊCH VÀ CHẾ LỜI CA KHÚC NƯỚC NGOÀI

Ngô Tự Lập

Ca khúc là nơi gặp gỡ của âm nhạc và thi ca, là “bài” thơ được “hát” lên. Vì thế, trong ca khúc, phần lời, hay ca từ, quan trọng không kém gì, và trong một số trường hợp còn quan trọng hơn, phần nhạc. Thật khó hình dung những bài hát của Văn Cao, Trịnh Công Sơn, hay Jacques Brel, Bob Dylan không có ca từ. Khi thay lời, bài hát trở thành một bài hát khác, cũng giống như khi một bài thơ được phổ nhạc theo hai cách, ta có hai bài hát khác nhau. Khi chúng ta nghe một bài hát, cảm nhận rất khác nhau khi chúng ta hiểu và không hiểu ý nghĩa ca từ. Do tầm quan trọng ca từ như vậy, khi tiếp xúc và giới thiệu ca khúc nước ngoài, người ta có hai xu hướng ngược nhau trong cách xử lý ca từ: một là dịch thật sát nghĩa, hai là phóng tác lời mới. Cả hai xu hướng đều có lịch sử lâu dài và kinh nghiệm cả thành công lẫn thất bại.

Dịch sát nghĩa và nhuần nhuyễn ca từ là công việc rất khó, khó hơn dịch thơ nhiều, bởi lẽ đó chính là dịch thơ trong điều kiện bó buộc của giai điệu và dấu thanh tiếng Việt. Dù vậy, rất nhiều ca khúc nổi tiếng của thế giới đã được dịch và Việt hóa ít nhiều thành công: Các ca khúc cách mạng như “Quốc tế ca”, “Bài ca tuổi thanh niên sôi nổi”…; các ca khúc trữ tình như “Đôi bờ”, “Chiều ngoại thành Moskva”, “Ôi mặt trời của tôi”… (ở Miền Bắc), “Aline”, “Đồng xanh”, “Những mùa nắng đẹp”… (ở Miền Nam). Có những bài hát được dịch đi dịch lại nhiều lần, như bài “Cachiusa” có hai phiên bản: “Đào vừa ra hoa…” và “Dòng sông xưa rừng táo trắng hoa nở đôi bờ…” Tuy nhiên, cũng có những bản dịch làm hỏng tác phẩm, như trường hợp bài Chúc mừng năm mới mà tôi đã có dịp nói đến trong bài “Happy New Year, bài hát tiên tri của ABBA”. Ra đời năm 1979, bài hát của ABBA trĩu nặng lo âu về tương lai của nhân loại đang đứng bên bờ vực thảm hoạ diệt vong với chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, những cuộc đảo chính đẫm máu, những cuộc diệt chủng, và xa hơn là mối hiểm họa của một thế giới kỹ nghệ hóa đến mất hết tính người mà nhà văn Anh Aldous Leonard Huxley (1894-1963) mô tả trong cuốn Tân thế giới dũng cảm (Brave New World, 1932). Đây là một đoạn ca từ của bài hát: “Bây giờ em cảm thấy/ Rằng mọi giấc mơ ta từng có ngày nào/ Đều đã chết/ Chẳng còn gì ngoài xác hoa giấy trên sàn/ Một thập niên vừa chấm dứt/ Nào ai biết một thập niên tới đây/ Những điều gì sẽ đến…” Vậy mà trong nhiều năm qua, bài hát này vẫn được trình bày với lời Việt với những lời chúc khuôn sáo, vui vẻ, vừa không ăn nhập với nhạc, vừa hạ thấp tầm tư tưởng của tác giả.

Xu hướng phóng tác cũng phổ biến không kém, và không phải chỉ vì những khó khăn của công việc dịch thuật. Xu hướng này bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, với những bài hát Tây được lời Việt, gọi là «Bài ta điệu Tây». Đa số những bài hát này được dùng để hun đúc lòng yêu nước của nhân dân. Chẳng hạn, theo Phạm Duy, bài hát Frères Jacques (Frères Jacques/ Frères Jacques/Dormez vous/ Dormez vous/ Sonnez les matines/ Sonnez les matines) được hát thành : “Hời hợi đồng bào/ Hời hợi đồng bào/ Tỉnh dậy mau/ Tỉnh dậy mau/ Nước (ứ) ta đã mất rồi/ Nước (ứ) ta đã mất rồi/ Mau tỉnh mau!/ Mau tỉnh mau!”. Một ví dụ khác là bài Quốc ca Pháp (La Marseillaise), được chế thành một bài hát chống Pháp. Cũng theo Phạm Duy, đoạn điệp khúc (Aux armes, citoyens/ Formez vos bataillons/ Marchons, marchons !/ Qu’un sang impur abreuve nos sillons ! » được hát thành: « Huyết khí ở đâu, người Nam!/ Để chúng múa gậy vườn hoang/ Đầu đen máu đỏ, khác chi thú cầm/ Ai ơi là giống Lạc Hồng… » Chính những « Bài ta điệu Tây » như vậy đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến nhạc phương Tây và sự hình thành nền tân nhạc Việt Nam.

Về sau, việc sáng tác lời Việt cho ca khúc nước ngoài chủ yếu được sử dụng như là phương tiện để chuyển tải tình cảm, tư tưởng và những thông điệp của người viết lời (nếu không kể « nhạc chế », được áp dụng với cả các bài hát Việt Nam). Nhiều bài hát, chẳng hạn bài dân ca Anh« Scarborough Fair » được Phạm Duy biến thành « Ôi ! Giàn thiên lý đã xa »  và trở nên cực kỳ phổ biến ở Việt Nam, mặc dù lời Việt khác hẳn lời Anh.

Thế nhưng, gần đây cách làm nghiêm túc này đang mất dần. Thay vào đó là những “lời Việt” dễ dãi, đa số có chủ đề thất tình, với ngôn từ mòn sáo, thậm chí dung tục. Kết quả là, nhiều kiệt tác của thế giới bị biến thành một thứ thậm chí không bằng nhạc chế –  bởi lẽ, người làm và hát “nhạc chế” ý thức rất rõ, rằng mọi người đều biết rõ ca từ thật của bài hát. Lời chế, vì vậy, chỉ có mục đích đùa cợt hoặc phê phán một điều gì đó. Lời chế không những không hề làm tổn hại, mà trong nhiều trường hợp còn tôn vinh ca từ gốc – thông qua sự liên tưởng, so sánh và phổ biến ca từ gốc.

Một ví dụ về thứ “lời Việt” dễ dãi là bài “Say tình”, do Đàm Vĩnh Hưng trình bày, cũng đã khá nổi tiếng. Bản gốc là bài “L’Italiano” (Người đàn ông Italia) của Toto Cutugno.

Xin hãy đọc lời Việt:

Rót mãi những chén chua cay này

Lêu bêu như gã du ca buồn

Lang thang bước với nỗi đau

Với trái tim ta tật nguyền


Buồn nào đưa ta qua những nỗi đau thương này

Giọt nồng ta say cho quên đi đôi mắt u tình

Ánh mắt đắm đuối đôi môi đam mê đôi tay buông lơi

Em yêu đã giết ta trong một đêm quên mê buồn


Vì yêu em nên ta đã hóa ngây ngô rồi

Mỗi sáng, mỗi tối, ta điên, ta say với bóng men

Đã thế những nỗi đau thương chua cay đâu không ai hay

Khi em đã bước chân theo niềm vui kia đi rồi


Nào ngờ em quay lưng cho ta quá đau buồn

Giữa quãng đời làm người tình si quá mê dại

Ôm lòng vỡ nát …

Trút hết trong ly rượu nồng


Ðã trót đã lỡ yêu em rồi

Con tim ta lỡ trao em rồi

Ta say ta hát nghêu ngao lời tình si mê

Em có hay không nào …

 

Không hiểu tác giả sẽ choáng hay phì cười nếu nghe được phiên bản tiếng Việt. Bởi vì ca từ của ông, trong tiếng Italia, là một bài thơ tuyệt hay, vừa sinh động, chân thực, vừa thâm thúy. Tác giả của bài hát, Toto Cutugno, là nhạc sĩ kiêm ca sĩ người Italia. Trước khi tự trình bày các ca khúc của mình với tư cách là ca sĩ, Toto Cutugno đã nổi tiếng với tư cách là tác giả của hàng loạt ca khúc viết cho những danh ca như Joe Dassin (“L’été indien”, “Et si tu n’existais pas”, “Le Jardin du Luxembourg”…), Dalida (“Laissez moi danser”). Năm 1976, ông lần đầu tiên tham gia Liên hoan âm nhạc Sanremo danh giá và đoạt giải ba. Cũng tại liên hoan này, năm 1980 ông đoạt giải nhất (với bài hát “Solo noi” – “Chỉ có chúng ta”) và sau đó còn đoạt giải nhì sáu lần nữa, vào các năm 1984, 1987, 1988, 1989, 1990 và 2005.

Bài hát L’Italiano” được Toto Cutugno trình bày lần đầu tiên tại Sanremo 1983. Tuy chỉ xếp thứ năm, nhưng bài hát nhanh chóng nổi tiếng khắp thế giới và trở thành một bức chân dung âm nhạc đặc sắc của “một người đàn ông Italia đích thực”. Bài hát bắt đầu:

Hãy cho tôi hát

Tay cầm chiếc ghi-ta

Hãy cho tôi hát

Tôi là người Italia…

 

Đoạn tiếp theo là bức tranh sinh động, vừa chân thực vừa sâu sắc, của xã hội Italia vào thập niên 1980:

Chào Italia, với món spaghetti chín tới

Và tổng thống là người du kích năm xưa

Tay phải khư khư chiếc radio xe hơi

Và trên cửa sổ một con chim bạch yến.

 

Món spaghetti thì ai cũng biết, chiếc radio xe hơi là biểu tượng của lớp người thành đạt lúc bấy giờ, còn vị tổng thống là Sandro Pertini, tổng thống Italia nhiệm kỳ 1978-1985. Italia đã phát triển mạnh mẽ trong hai thập niên 1950-1960, được gọi là giai đoạn thần kỳ về kinh tế, nhưng đến thập niên 1970 bị rơi vào tình trạng bất ổn. Vốn là du kích chống phát xít trong chiến tranh thế giới thứ 2, Pertini khá thành công trong việc đoàn kết các tầng lớp nhân dân và khôi phục lòng tin đối với chính phủ. Pertini cũng là người kiên quyết chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tội phạm có tổ chức của mafia.

Đoạn tiếp theo vẫn là mô tả, nhưng với đôi chút phê phán, giễu cợt. Vẫn là Italia của văn chương, nghệ thuật, tình yêu, nhưng đang bị Mỹ hóa nhanh chóng, đồng thời lối sống thực dụng ngày càng làm lu mờ ảnh hưởng của Nhà thờ:

Chào Italia, với những nghệ sĩ của người

Với những tấm áp phích có quá nhiều nước Mỹ

Với ca khúc, với tình yêu, với trái tim

Với đàn bà càng nhiều bà xơ càng ít

Chào Italia, chào Đức Mẹ Maria đôi mắt u sầu

Chào Chúa Trời

Người biết rằng tôi cũng đang hiện diện.

 

Trong lời hai, hiện lên bức chân dung đời thường của một người đàn ông Italia điển hình: lịch lãm, chải chuốt (với áo vét sọc xanh và kem cạo râu mùi bạc hà), mê thể thao và bận bịu (những pha bóng đá quay lại vì không kịp xem trực tiếp ngày Chủ nhật), và tràn đầy lòng yêu nước (với lá cờ trong máy giặt):

Chào Italia không hề biết sợ

Với kem cạo râu thoảng mùi bạc hà

Với bộ áo vét sọc xanh

Và những pha bóng Chủ nhật TV quay lại

Chào Italia, với cà phê đậm đặc

Với đôi tất mới trong ngăn kéo trên cùng

Với lá cờ trong máy giặt khô

Và chiếc Fiat 600 cũ kỹ.

 

Nhưng bức chân dung đời thường ấy vẫn gắn chặt với đời sống chung của một đất nước đã từng thịnh vượng nhưng đang trong lúc khó khăn – giống như chiếc Fiat 600, từng là biểu tượng của công nghiệp Italia thời hoàng kim những năm 1950-1960, giờ đã trở nên cũ kỹ, lạc mốt. Tuy vậy, người nhạc sĩ vẫn ngẩng cao đầu đầy kiêu hãnh trong đoạn điệp khúc:

Hãy cho tôi hát

Tay cầm chiêc ghi-ta

Hãy cho tôi hát

Một bài hát nhẹ nhàng, điềm tĩnh

Hãy cho tôi hát

Bởi vì tôi tự hào

Là một người đàn ông Italia

Một người đàn ông Italia đích thực.

 

 Vậy mà “Người đàn ông Italia đích thực”, lịch lãm và kiêu hãnh ấy đã hóa thành một gã “Say tình” bệ rạc, bước “lêu bêu”, “lang thang” với “trái tim tật nguyền”. Tôi không biết tác giả “lời Việt” có xin phép Toto Cutugno hay không. Nếu không, tác giả có thể kiện. Nhưng xin hãy để vấn đề pháp lý sang một bên. Theo tôi, người chịu thiệt thòi nhất chính là người nghe. Bởi lẽ, anh/chị ta không biết được rằng bài hát của Toto Cutugno hay biết chừng nào. Thêm nữa, “Say tình”, cùng vô số những bài hát với ca từ tầm thường, sáo rỗng và dễ dãi tương tự, sẽ làm xói mòn thẩm mỹ của người nghe, nhất là người nghe trẻ tuổi.

Tại sao người ta lại có thể viết một “lời Việt” như vậy cho bài hát tuyệt hay kia? Vấn đề không phải là ngoại ngữ. Nếu không biết ngoại ngữ, người ta có thể nhờ dịch. Vấn đề là sự cẩu thả, dễ dãi và thiếu chuyên nghiệp của người dịch/viết lời, của ca sĩ và có lẽ phải nói là cả người nghe nữa.

Cuối cùng, vì đã biết ca từ gốc, các bạn có thể coi “Say tình” là một bản “nhạc chế”. Với tư cách ấy, nó có lý do để tồn tại và có ích. Hãy hát “Say tình” để chế giễu những gã say rượu. Hãy hát và luôn nhớ rằng đó “nhạc chế” của một bài hát tuyệt hay, bài “Người đàn ông Italia”.

 

A blues singer spent 10 years in a North Vietnam prison for singing about love

 PRI’s The World

January 14, 2014

Credit: Christopher M. Johnson
Nguyễn Văn Lộc takes the stage several nights a week at his cafe, performing many of Vietnam’s most popular love songs, in a style called “nhạc trữ tình,” which means “romantic music.”

During its war with the United States, North Vietnam wasn’t just concerned with how the frontline battles were going, or the US air raids on its capital city. The communist leaders were also worried about what its citizens were singing.

The North Vietnamese government only wanted songs that encouraged people to fight for the nation. So most other music was banned, especially love songs.

That is how Nguyễn Văn Lộc ended up spending a decade in prison. Now 69, Nguyễn still remembers the song that got him in trouble. It’s called “Niệm Khúc Cuối,” or “The Last Song.”

He says that when he was put on trial, Nguyễn was accused of singing this classic as a statement against the government.

But it wasn’t rebel music, he insists. He wasn’t calling for revolution or political overthrow. “It’s about love,”Nguyễn explains. “It’s about the last reunion between a man and woman before the man has to leave for far away. It’s about the last night they’re together.”

The song is from a style called “nhạc trữtình,” which means “romantic music.” Most of it was written in the first half of the 20th century. It is usually about love and loss and broken hearts. Kind of like the blues. Nguyễn’s been hearing it for most of his life.

“My father was a beautiful singer,” he recalls, “so he’d sing to me this romantic music when I was in the cradle. At night, after work, he’d come home and hold me in his lap, and he sang this music to me. So at 7 or 8 years old, I already remembered the lyrics and melodies of many, many songs.”

As a young adult, Nguyen started a trio with two acoustic guitarists. “During our free time, we gathered in a room and we closed the door and we sang to one another. And only a few close friends who really loved this music, we allowed them to join us and listen to us.”

They had good reason to keep their music a secret. This was the late 1960s. North Vietnam’s war with US and South Vietnamese forces was intensifying.

The communist authority wanted its citizens’ minds on victory. Not the achy blues of nhạc trữtình music.

And there was another problem. The music was huge in South Vietnam. Songs like “Suối Mơ,” or “Spring Stream,” filled Saigon’s bars, which were packed with cigarette smoke and American GIs looking for a good time. Văn Cao — now one of Vietnam’s most celebrated composers — co-wrote this song, which became part of the soundtrack of South Vietnam’s war effort.

So the North officially outlawed most of it as the sound of the anti-communist enemy. Nguyễn and his friends “knew that the state had banned the music, but we just didn’t care. And we had no political agenda. We didn’t go against any government policies.”

But they were breaking the law. Somehow, the police found out. The musicians got called in repeatedly for questioning. Nguyễn says the authorities were sure he and his bandmates were being paid by anti-communist interests in South Vietnam and abroad to stir up trouble. The artists were asked if they were working for spies.

This went on for about a month: the group would be interrogated, and then released.

One day, in the spring of 1968, Nguyen headed down to the station on what he thought was another routine summons. He was 23 and a house painter who’d just fallen in love with a girl he’d met at his clandestine shows. He wouldn’t see her again for 10 years.

“I was arrested,” Nguyễn recalls, “under the charges of suspicion of spreading the depraved culture of capitalism, and destroying the culture of socialism. And then, they took me back home so they could search my house, but they found nothing but old lyrics and sheet music. That’s all.”

The whole group was sent to prison. One bandmate got 15 years. Nguyễn Văn Lộc did hard labor, serving out some of his time at the notorious Hanoi Hilton.

The trio’s fate was an extreme and unusual one, says Nguyễn ThụyKha, a music journalist, historian and composer.

He says there were smaller cases of backlash or state reprimand, but nothing on the level of Nguyễn Văn Lộc’s case. “If someone slipped and sang a little song and others heard it, they may have ended up in political trouble. Like criticism, or it may have affected their jobs. But this is because we were at war at the time.”

He served in that war, as a communications expert for the red army. Even as an artist today, he says the wartime ban was necessary if North Vietnam was going to have the backbone it needed to fend off America’s Goliath forces.

“Lost. Lost the war — that’s what would have happened if we had kept singing those gloomy, weak songs,” Nguyễn ThụyKha insists. “Meanwhile, we’re living under US bombardment and air attacks. We would just be embracing one another and crying to die, if we sang that music. We couldn’t do that.”

But once the war had ended and Vietnam was on its way to peace, he says, “we come back and we appreciate the value of this music.”

In fact, today Vietnam celebrates its old-school romantic music as part of the national heritage. Nguyễn Văn Lộc still remembers that day he was released in 1978. “I walked from the prison to the railway station to get back home to Hanoi. At that station, he says, “all the cafes were playing romantic music — the music I was arrested and imprisoned for. And I was shocked!”

For Nguyễn, this was like a slap in the face. Both of his bandmates died in poverty after they got out. Over the last three and half decades, he has struggled a lot, too. Mostly, he says, because of his criminal record.

Still, “there’s no regret,” Nguyễn says, not apologizing for his choices. “If I had regretted it, I wouldn’t be here today, still singing.”

Nguyễn’s story isn’t all about loss. That young woman he fell in love with before he was sentenced? They got married, and had 2 kids before she died in 2002. Today, Nguyễn’s son is a successful guitarist.

There’s also his coffeehouse, which Nguyễn has dedicated to the golden music of Vietnam. It’s called “Cafe Lộc Vàng.””Cafe Yellow Lộc.”

On a recent Saturday night, a keyboard player and guitarist warmed up on the cafe’s small cement stage, in front of a maroon velvet curtain. About two dozen people sat at low tables, listening, and sipping Ha Noi brand beer.

In his beige suit and silk tie, Nguyễn Văn Lộc took the stage. He welcomed the house, then closed his eyes, and there was that voice. It’s still has some of that cigarette smoke in it, plus a few drops of the powerful oily green tea he’s always pouring for himself.

But mostly, it’s romance. It’s love — for the music, for this cafe he’s built, for his country. And for his late wife, who he says he sometimes sees standing in the corner, listening to him and smiling.

Nguyễn took turns with several artists he’d hand-picked to sing at his cafe. The flowers printed on one woman’s blue and yellow silk áo dài — the national dress of Vietnam — seemed as if they were spilling down the front as she sang the classics for an equally well-dressed crowd.

The audience was mostly older, but not entirely. Dinh Van Tien is a 30 year-old engineer who brought his girlfriend here for the first time. Many of their friends prefer pop or rap, but Thien says he’ll take the blues over a night at a club. “This music is emotional, and it has deep feeling.” Listening to nhạc trữtình, Thien says, “you’re like a foreigner: you come here, and through the music, you can learn about Hanoi and Vietnam.”

Nguyen Van Loc says more and more young people are stopping by to listen, and he’s grateful for the support. Especially since it’s taken several tries and thousands of dollars to have his own cafe.

He’s sure things would be much easier if he hadn’t spent his best years in prison. And if he didn’t have a record as an ex-con.

Sometimes, he cries when he talks about the last 45 years. Then, he sits up straight, smoothes his jacket and smiles, as he pulls a fresh cigarette from the box.

“It’s not easy to have what I have today,” Nguyễn explains, clicking his lighter. “But I’m trying to preserve this music. And to gain back my pride. So I don’t care about the money. I just want to sing proudly.

Nguyen doesn’t look like he’s spending a lot of time chewing on what could have been. He’s got to get back on stage.

  • Credit: Nguyễn Đình Toán (1994)
    Nguyễn (left) sometimes visited Phan Thắng Toán, his friend and former bandmate who also went to prison for playing romantic music. After he was released, Phan lived — and died — in poverty, on the streets.

NHỮNG PRELUDES KHÔNG ĐẦU ĐUÔI CHO LÊ UYÊN VÀ PHƯƠNG

 

LeUyenPhuong1972 

Đề từ

“Như hoa đem tin ngày buồn

Như chim đau quên mùa xuân

Còn trong hôn mê buồn tênh

Lê mãi những bước ê chề

Xin cho thương em thật lòng

Xin cho thương em thật lòng

Còn có khi lòng thôi giá băng”

(Tình khúc cho em – Tuyển tập “Yêu nhau khi còn thơ” 1960-1967)

 

Với cặp tài tử-giai nhân Lê Uyên và Phương, tôi chỉ là kẻ hậu sinh, chưa một lần được diện kiến cho thoả lòng hâm mộ. Trong âm nhạc, tôi là gã tài tử chẳng biết gì thấu đáo. Mà âm nhạc của họ thì đã đi trước thời đại một quãng quá dài. Âm nhạc của họ vừa mang tính vị lai, vừa thở cái cái hơi thở của hậu hiện đại và dã thú (fauvisme). Như một bức tranh đầy những mảng màu nguyên thuỷ của Matisse, âm nhạc của Lê Uyên Phương phơi bày những cảm giác nguyên tuyền nhất của đời sống tình nhân, với rất nhiều mê đắm không che dấu, không bị khuất lấp bởi những ẩn dụ rối rắm, hay những uyển ngữ khuôn sáo. Nhạc của họ trình bày những khắc khoải muôn thuở của tình yêu, nỗi chia ly, ranh giới của sự sống-cái chết…, như nó đã hiện hữu trong những tác phẩm hậu chiến của Eric Maria Remarque. Như những nhân vật của Remarque, đôi tình nhân này đã yêu và đã hát theo cách như thể ngày mai họ chết, buông nhau ra là chết, thiếu vắng nhau là chết…

Làm sao tôi có thể viết cho đầy đủ về họ? Viết một biên khảo, chú giải về Lê Uyên Phương đã là mộng ước trong nhiều năm nhưng đành thúc thủ, vì cả thời gian và vốn hiểu biết nhỏ nhoi của mình so với âm nhạc ấy.

Tôi chọn cách ghi chép những suy nghĩ lan man và đã tồn lưu trong tâm trí trong rất nhiều năm tháng. Khi viết xuống những dòng này, tôi ao ước âm nhạc ấy không bao giờ lịm tắt đi, như chúng ta đang thấy.

Với Lê Uyên Phương, tình yêu đã là một nghi lễ, đầy đau thương và khắc khoải. Nhưng đời sống hôm nay quá ồn ào để nghe lại Lê Uyên Phương, người viết tụng ca tình yêu hay nhất mọi thời đại.

Hãy giữ lòng thinh lặng để nghe họ hát, sau khi đọc những ghi chép không đầu không đuôi này!

Sài Gòn, Đà Lạt, Lê Uyên và Phương

Vung_lay_cua_chung_ta

“Một chiều nào chúng ta.

Một chiều nào thiết tha.

Ngày đầu hè tình nở thắm tươi.

Biết đâu buồn vui.

Mai sau khi gío Thu về.

 

Anh, anh ơi sao lòng vấn vương?

 

Dang đôi tay ôm vào mến thương.

(Còn nắng trên đồi – Tuyển tập “Yêu nhau khi còn thơ”1960-1967)

Ký ức Sài Gòn là mùi bắp rang bơ trên hè phố Lê Lợi, là chiếc thang cuốn ở rạp Rex, là tờ Thiếu Nhi của bác Nguyễn Hùng Trương còn thơm mùi mực ở nhà sách Khai Trí. Và cả cảm giác tiếc ngẩn ngơ khi chiếc máy bay chạy pin đầu tiên bị hư nữa.

Ký ức Đà Lạt là “sương mù dày đặc đến xắt ra được” (trích Minh Quân, tủ sách Tuổi Hoa), là Giáo Hoàng Học Viện Pie X nơi bố C. đã học, là cuốn Thần Mã của thầy giáo dạy toán Hoàng Đăng Cấp, là ban kịch Thụ Nhân của Viện Đại học Đà lạt…

Và còn gì nữa? Âm nhạc của Lê Uyên Phương. Âm nhạc của đồi thông xanh, của sao trời lấp lánh trong những “Đêm chợ phiên mùa đông”, của căn phòng nhỏ nồng hơi ấm tình nhân, của gối chăn nhàu nhĩ còn vương vấn da thịt người tình… Âm nhạc ấy đã làm cho ký ức Đà Lạt trở thành một thực thể sống động, vô cùng thân quen, gần gũi…, Một cảm giác rất déjà vu, mặc dù 40 tuổi mới đặt chân đến Đà Lạt lần đầu (?)

Có gì lạ đâu? Đến Đà Lạt, lên đồi vắng, ngồi dưới một gốc thông già, nhìn mây bay và một iPod trong túi áo. Với Lê Uyên Phương, Đà Lạt đã trở thành phi thời gian, phi không gian. Gã trung niên đến Đà Lạt lần đầu mà cứ tưởng như một nơi chốn thân quen để quay về…

Có loại âm nhạc nào quay ngược được thời gian như thế, ngoài âm nhạc của Lê Uyên Phương? Âm nhạc ấy, vẽ ra chân dung đắm đuối nhất của tình nhân. Và chân dung ấy, mọi kẻ đang yêu, đã yêu đều thấy mình trong đó…

Lê Uyên Phương và Đà Lạt, ai đã làm cho ai trở thành bất tử?

 Cặp duet của nỗi chia lìa

06

“Sống bên nhau ngọt ngào

Dù đời buồn hay vui mau

Sống cho nhau mặn nồng

Vì ta không còn

Còn cho nhau tiếng cười

Còn nhớ bóng dáng người tình ấp ôm

Đến khi lìa cõi đời gắt gao .

 

 

Sống bên nhau dịu dàng

Dù đời làm ta khô khan .

Sống cho nhau nụ cười vì ta yêu người

Vì ta yêu mãi người

Vì biết sẽ có ngày nhìn thấy nhau

Mắt môi lạnh mất rồi .

Khóc thay người”

 

(Yêu nhau trong phận người)

 Lê Minh Lộc, tên của người đàn ông và Lâm Phúc Anh, đã xuất hiện trong ký ức tôi trong thập niên 70, qua chiếc TV đen trắng. Gầy guộc, tóc hippies phủ gáy, người đàn ông ngồi đệm đàn và người đàn bà mặc áo dài đứng hát. Cứ mỗi lần thấy họ, mẹ tôi lại chép miệng thương cảm. Có gì đâu! Với một khối u ở bàn tay trái, thấy rất rõ trên TV, cộng với hình hài gầy guộc, người ta đồn đại đó là một khối ung thư. Khi khối u đó rụng, người đàn ông sẽ qua đời.

Lúc ấy, cặp du ca của chúng ta cũng thật sự tin như vậy. Cho đến khi sang Mỹ kỳ hậu chiến, khối u ấy mới được xác định là chứng loạn sản sụn, một khối u lành tính. Nhưng chúng ta phải thành thật biết ơn khối u ấy. Mang ám ảnh về một căn bệnh hiểm nghèo, nên cách họ hát mới tha thiết và đắm đuối làm sao! Họ lắc lư theo nhạc, nhìn sâu vào mắt nhau như thể đây là lần cuối họ càng được hát cùng nhau. Không cần họ buông đàn để ghì chặt lấy nhau, dường như họ đang mê mải làm tình, “đốt nóng truy hoan cho thiên đường này”, để khi buông nhau ra là yên giấc nghìn thu.

Họ cùng hát lên nỗi buồn của tình nhân tuyệt vọng!

Du ca là âm nhạc của tình nhân, của đàn ông-đàn bà. Nên du ca đã soi bóng không biết bao nhiêu tình nhân bất tuyệt từ John Lenon- Yoko Ono, Bob Dylan – Joan Baez, Trịnh Công Sơn-Khánh Ly… Những cặp duet bất tử đó, hát cùng nhau về niềm vui, nỗi buồn, sự chết, thân phận, chiến tranh, hoà bình…Nhưng chẳng ai có thể hát về cái chết và sự chia ly với một nỗi buồn tuyệt đẹp như Lê Uyên và Phương. Vì cách họ hát, cách họ nhìn nhau…, đã như thể họ đang đếm ngược giây phút bị chia lìa nhau bằng cái chết. Nỗi đau đớn đó, đã được hoán chuyển bằng niềm ham sống với, và sống cùng nhau từng giây từng phút.

Khi trình bày cái chết như một nỗi chia ly và như một phép trừ những tháng ngày còn lại bên nhau, Lê Uyên và Phương đã làm cho niềm tuyệt vọng và âm nhạc của họ trở thành bất tử.

 Âm nhạc chỉ cho tình nhân

Tranh Lê Uyên Phương

 

Tranh Lê Uyên Phương

Hãy ngồi xuống đây

như loài thú hoang yêu nhau ngoài đồng

duới nắng ban mai

phô thân trần truồng kiếp sống hoa sơ

 

 

Hãy ngồi xuống đây hôn nhau lần này

Hãy ngồi xuống đây cho nhau lần này

Hãy ngồi xuống đây chia tay lần này

 

 

Hãy ngồi xuống đây vai kề sát vai

cho da thịt này đốt cháy thương đau

cho cơn buồn này rót nóng tung hoang

cho thiên đường này bốc cháy

trong cơn chia phôi chia phôi tràn trền

 

 

Hãy ngồi xuống đây

bên con vực này ngó xuống thương đau”

 

(Hãy ngồi xuống đây – Tuyển tập “Khi loài thú xa nhau” 1967-1969)

Âm nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn… là âm nhạc để cùng nhau nghe, cùng nhau hát. Âm nhạc của đám đông!

Âm nhạc của Cung Tiến là âm nhạc của đêm thâu và chỉ nghe một mình, để thấy trong “những đêm sao mờ, lòng ta bâng khuâng theo gió vi vu”.

Còn âm nhạc Lê Uyên Phương là âm nhạc của tình nhân viết cho tình nhân. Âm nhạc ấy đầy nắng, gió, sông, suối, sương mù…Âm nhạc rã rời như chính thân xác sau cuộc truy hoan mê mải đó chỉ có thể nghe chung với một người tình mê đắm. Âm nhạc đó cần sự thinh lặng của thân xác lẫn tâm hồn. Mà trong đời người, giây phút nào là thinh lặng tuyệt đối hơn khoảng khắc ấy?

Phạm Duy biến hoá thang âm ngũ cung như một phù thuỷ. Trịnh Công Sơn mang giai điệu Huế chậm rãi vào nhạc của mình. Vui có, buồn có…

Nhưng đừng mong tìm ra một dấu vết dân nhạc nào trong âm nhạc của Lê Uyên Phương. Nhạc của họ là Valse, Slow rock, là Rumba… với những điệu thức, hoà âm Tây phương giản dị, không chút cầu kỳ. Vậy mà nhạc họ buồn, da diết, cho dù đó là nhịp ¾ của một điệu Valse rộn rã. Vì họ hát về một ngày vui chóng qua, về “một đêm chợ phiên mùa đông” sắp tắt, một ngày “nắng lên đồi” qua mau… Họ dẫn người nghe nhạc đi qua tình yêu của họ và chỉ ra cái tận cùng của tình yêu đó là sự mất mát, chia cắt vĩnh viễn bằng lưỡi hái tử thần.

Valse mà buồn bã, nhẹ nhàng, sang trọng đến vậy, hoạ chăng chỉ có Chopin với Valse l’Adieu và HỌ.
Đêm chợ phiên mùa đông – Valse, Lê Uyên Phương

Đà Lạt-Paris tuy xa mà gần

Một hoạ phẩm của Lê Uyên Phương

Một hoạ phẩm của Lê Uyên Phương

 

“Như hoa đem tin ngày buồn

Như chim đau quên mùa xuân

Còn trong hôn mê buồn tênh

Lê mãi những bước ê chề

Xin cho thương em thật lòng

Xin cho thương em thật lòng

Còn có khi lòng thôi giá băng”

 

 

(Tình khúc cho em – Tuyển tập “Yêu nhau khi còn thơ” 1960-1967)

Bên bờ sông Seine, Cung Trầm Tưởng đã viết về một “người em Paris với tóc vàng sợi nhỏ, chờ mong em chín đỏ trái sầu…”

Nhưng vì sao một thầy giáo trung học ở xứ Đà Lạt mù sương, chưa một lần đến Paris, lại có thể viết được những ca khúc tràn trề nhục cảm và đầy chất hiện sinh như thế? Những ca khúc của Lê Uyên Phương, đã là sự biểu đạt bằng thơ và nhạc tư tưởng hiện sinh của Jean Paul Sartre. Và đặt nó vào trong một bối cảnh Việt Nam thời chiến: Đà Lạt.

Không chỉ bằng sức mạnh của ngôn từ, âm nhạc ấy đẹp đẽ, khai phóng và hoàn toàn có thể sánh ngang với những trước tác hiện sinh khác của Albert Camus, Jean Paul Sartre, hay “Buồn ơi chào mi” của Francois Sagan…

Càng nghĩ, càng thấy muôn phần kính phục cho cái thượng tầng văn hoá ở miền Nam hồi ấy. Chỉ cần sự sản sinh ra hai khuôn mặt tình nhân du ca như Lê Uyên và Phương, văn hoá ấy đã vươn đến tầm “universal” và phi thời gian tính rồi.

Hèn chi, mỗi khi nghe đến nhạc ấy thì cái lòng thương tiếc miền Nam lại trỗi dậy, da diết và buồn thảm lạ lùng!

Bản thánh ca tình yêu đang tắt

Âm nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy… đã hồi sinh, đã sống lại trong lòng công chúng. Ngay cả trong những lúc bị cấm đoán khắc nghiệt nhất.

Nhiều ca sĩ đã hát họ, với những cách biểu đạt lạ lẫm nhưng chẳng thể nào sánh nổi với những thanh quản bằng vàng của Sài gòn năm ấy. Nhưng ít nhất, vẫn còn người hát!

Nhưng vì sao, rất ít người trẻ hôm nay biết đến và hát Lê Uyên Phương, dù họ đã và vẫn yêu như hai người du ca trẻ năm xưa?

Vì tình yêu thời thổ tả hôm nay không đủ mê đắm?
Vì xã hội đảo điên đến độ không có chỗ cho tình nhân dịu dàng?
Hay vì Đà Lạt, cái nôi của âm nhạc ấy đã bị tàn phá?

Ai biết xin chỉ giùm! Để âm nhạc ấy không chết, không lụi tàn như một ngọn nến thơm của đêm sinh nhật thời niên thiếu.

Âm nhạc ấy sống lại và vang lên nỗi buồn tuyệt đẹp của nó, thì há chẳng phải nhiều cuộc tình oan khốc hôm nay đã được cứu rỗi lắm sao?

“Em ơi! quên đi bao nhiêu xót xa

Những chiều thiết tha bên nhau

Em ơi! xin em, xin em nói yêu đương đậm đà

Để rồi ngày mai cách xa

 

Anh ơi! bao nhiêu tang thương
mỗi khi đã rời giấc mơ yêu đương
Anh ơi! xin anh, xin anh cúi trên cơn mộng dài
Để chờ ngày mai lên nắng”

(Lời gọi chân mây – Tuyển tập “Yêu nhau khi còn thơ” 1960-1967)

 Làm sao những người trẻ hôm nay có thể giết nhau vì tình, khi đã hát với nhau một tình khúc buồn bã và thơ mộng đến như vậy?
(Tình khúc cho em – Lê Uyên Phương)

____________________

Mùa mưa Sài gòn, cuối tháng 7.2013

 

 

 

Thực trạng phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay

NGUYỄN NGỌC THIỆN
Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, kể từ đầu thế kỷ XXI đến nay, phê bình văn học nghệ thuật diễn ra chưa đồng đều trên các loại hình: văn học, mỹ thuật, sân khấu, âm nhạc, điện ảnh, nhiếp ảnh, kiến trúc, múa và ở 2 khu vực: văn nghệ dân gian, văn nghệ các dân tộc thiểu số.
Phê bình văn nghệ được quan tâm chỉ đạo từ lãnh đạo Đảng và Nhà nước và sự phát huy vai trò của tổ chức Hội VHNT ở Trung ương, các tỉnh, thành phố. Phê bình VHNT diễn ra trên các khu vực:
– Trong nước / – ngoài nước;
– Trung ương / – địa phương;
– Hàn lâm (viện nghiên cứu, trường đại học) / – xuất bản, báo chí, truyền thông.
Các khuynh hướng phê bình chủ yếu
Phê bình truyền thống dựa vào các nguyên lý của mỹ học mác xít, đường lối văn học nghệ thuật của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự chỉ đạo của các Nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước, với các đặc điểm:
Bám sát thực tiễn sáng tác, biểu dương những tác phẩm gắn bó với đời sống hiện thực, phản ảnh trung thực hiện thực, góp phần thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.
Khẳng định những tác giả đem tài năng và tâm huyết vào sáng tạo tác phẩm phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao đời sống tinh thần lành mạnh, tốt đẹp của xã hội, làm phong phú năng lực thẩm mỹ của công chúng.
Phê phán những tác phẩm xa rời hiện thực đời sống, lệch lạc về tư tưởng chính trị và tư tưởng nghệ thuật, thiên về gọt rũa hình thức, kỹ xảo thuần túy chỉ để nhằm bộc lộ “cái tôi” riêng tư của tác giả.
Tiêu chí đánh giá tác phẩm: phản ánh chân thật hiện thực; đáp ứng thị hiếu của đông đảo công chúng; bổ ích trong hiệu quả xã hội.
Phê bình dựa vào các lý thuyết phê bình mới tiếp nhận từ nước ngoài, áp dụng vào phân tích tác phẩm cũ và mới, mở ra cho người đọc những hướng tiếp cận mới đối với tác phẩm và tác giả: thi pháp học, chủ nghĩa cấu trúc và ký hiệu học, phân tâm học, chủ nghĩa hiện đại, mỹ học tiếp nhận, chủ nghĩa hậu hiện đại, phong cách học, ngữ học, tự sự học…
Trong số này, đa phần là những thử nghiệm, tìm tòi về phương pháp và kỹ thuật phê bình, không phải vận dụng vào phê bình tác phẩm nào cũng phù hợp, đắc địa. Một số kết quả khả quan bước đầu về phê bình văn nghệ được chú ý là do nhà phê bình biết chọn đối tượng tác phẩm, tác giả phê bình phù hợp với hệ hình tư duy và thủ pháp của thi pháp học, tự sự học, phong cách học, phân tâm học.
Ở đây vai trò của các cơ sở đào tạo (Viện nghiên cứu, Trường Đại học) giữ vị trí quan trọng trong việc triển khai 2 khuynh hướng phê bình: truyền thống và dựa vào lý thuyết mới từ nước ngoài nói trên.
Phê bình quy chụp, cực đoan thái quá; phê bình nói ngược, có hại cho ổn định xã hội.
Vẫn tồn tại lối phê bình đao to búa lớn, quy chụp động cơ thái độ chính trị nặng nề đối với tác giả, độc tôn một kiểu sáng tác, một kiểu tư duy nghệ thuật làm chuẩn mực cao nhất.
Phê bình nói ngược, lợi dụng dân chủ, nhân danh khuyến khích sự tìm tòi cái mới, cổ động cho lối sáng tác tuyên truyền tư tưởng lệch lạc, có hại cho sự ổn định xã hội, sự cố kết nhân tầm trong bối cảnh quốc tế phức tạp hiện nay (phê bình kích động “những tiếng nói ngầm” trong xã hội; khen ngợi thơ của nhóm Mở miệng phát hành chui…)
Trong 3 khuynh hướng nói trên cần cảnh giác, lưu tâm đến khuynh hướng thứ ba, vì chúng đi ngược với xu thế dân chủ, văn hóa phê bình của xã hội, hoặc bào mòn dẫn tới mất ổn định, đoàn kết trong xã hội tạo điều kiện cho các thế hệ thù địch lợi dụng, kích động.
Thực trạng phê bình trong các ngành văn học- nghệ thuật
Sự phân bố lực lượng phê bình- vấn đề cốt tử về tính chuyên nghiệp trong phê bình
Lực lượng phê bình các chuyên ngành nghệ thuật khác nhau phân bố không đồng đều về số lượng và chất lượng
Trong các ngành nghệ thuật, ngành văn học sở hữu một lực lượng phê bình và tác phẩm phê bình luôn luôn nhiều hơn các chuyên ngành khác, có chất lượng cao hơn, vì đây là ngành phê bình có truyền thống từ lâu đời.
Kế đến có thể nói tới các chuyên ngành khác, có lịch sử phát triển đáng kể, gần gũi với văn học là sân khấu, mỹ thuật và âm nhạc.
Các ngành khác: điện ảnh, nhiếp ảnh, múa, kiến trúc là những ngành nghệ thuật mới mẻ, ngôn ngữ nghệ thuật có những đặc thù riêng, không phải ai ai cũng thấu hiểu ngay được, nên lực lượng phê bình, tác phẩm phê bình càng ít hơn.
Trên lĩnh vực đào tạo cũng vậy. Các trường đại học về khoa học xã hội thường có khoa Ngữ văn hay khoa Văn học liên quan đến hoạt động phê bình văn học. Còn các trường cao đẳng hoặc đại học về các ngành nghệ thuật khác, ít có khoa Lý luận – phê bình của chuyên ngành, nếu có thì cũng ít người mặn mà theo học, hoặc học xong ra trường không làm nghề theo chuyên môn đào tạo.
Trong khu vực báo chí, xuất bản liên quan đến văn học nghệ thuật cũng vậy: số bài vở tác phẩm về phê bình văn học bao giờ cũng chiếm số lượng nhiều hơn so với các ngành nghệ thuật khác.
Ở các tỉnh, thành phố địa phương, lực lượng phê bình văn học tuy ít nhưng vẫn là có, trong khi người quan tâm và có khả năng viết phê bình các ngành nghệ thuật khác thì hầu như vắng bóng.
Tính chuyên nghiệp của những người viết phê bình văn học nghệ thuật không đồng đều
Do công tác đào tạo thực thi khác nhau và đặc thù về lao động nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật của các ngành khác nhau, nên số người cầm bút viết phê bình văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp gắn bó lâu dài với nghề là rất ít, phần nhiều là tay ngang, kiêm nhiệm hoặc tùy hứng, không ổn định.
Thế nào là người chuyên nghiệp phê bình? Theo tôi hiểu, chuyên nghiệp phê bình là người được đào tạo bài bản, chính quy trong các trường đại học về khoa học xã hội, về nghệ thuật hoặc có năng khiếu và kiên trì tự học, rèn luyện và thể nghiệm. Họ thường đảm nhiệm việc giảng dạy, nghiên cứu, biên tập tại các trường Đại học, Viện nghiên cứu, cơ quan báo chí hoặc xuất bản về văn học, nghệ thuật. Họ có điều kiện thường xuyên tiếp xúc với tác phẩm văn học, nghệ thuật, có mối quan hệ gắn bó với các văn nghệ sĩ trong ngành – phê bình là nghề và nghiệp của những người này, chúng đeo đuổi, gắn bó với họ có khi suốt đời.
Không phải ai cứ có học, có đọc và có viết là trở thành người phê bình chuyên nghiệp. Nghề phê bình rất kén chọn người, phải có những điều kiện cần và đủ mới có thể đảm đương công việc phê bình. Đó là: năng khiếu, tài năng bẩm sinh và do rèn luyện, dùi mài; kiến thức uyên bác, đa năng; kỹ năng và sự thành thục trong thể hiện độc đáo sự bình giá về tác phẩm, về văn nghệ sĩ trên văn bản chữ dồi dào chất văn, thu hút người đọc. Người tài trong phê bình văn học nghệ thuật luôn luôn là của hiếm, như lá mùa thu vậy!
Những điểm cần lưu ý trong thực trạng phê bình của từng ngành nghệ thuật
Văn học
Phê bình văn học có truyền thống từ lâu đời, tuy nhiên tính chuyên nghiệp còn hạn chế. Thiếu việc đề xuất những tiêu chí phê bình tác giả, tác phẩm có căn cứ khoa học, có sức thuyết phục, tránh sự tùy tiện chủ quan.
Trong phê bình văn học, phê bình thơ hiện nay còn lộn xộn, có trường hợp đề cao, xưng tụng quá đà, phản cảm.
Phê bình văn xuôi thiên về kể lể nội dung tác phẩm, gò gẫm ý nghĩa xã hội của chủ đề một cách quyết đoán.
Chưa chú trọng chỉ ra cái độc đáo, cái hay của tác phẩm cả về nội dung (tư tưởng, hiện thực) và thể hiện nghệ thuật, góp vào nhận diện phong cách và cá tính sáng tạo vô song của một tác giả.
Mỹ thuật
Chưa đi sâu chỉ ra cái nhìn nghệ thuật của họa sĩ, tài năng sử dụng chất liệu và cái “gu” thẩm mỹ của từng người.
Đối với nghệ thuật sắp đặt và các khuynh hướng mỹ thuật hiện đại khác cần tạo không gian cho sự thể nghiệm, song tránh vồ vập hoặc quy chụp nặng nề.
Sân khấu
Dừng lại lối phê bình thuật lại nội dung tác phẩm, ý đồ của tác giả kịch bản, đạo diễn.
Chưa làm rõ các tìm tòi khi dựng vở trên sân khấu trình diễn, và lao động nghệ thuật sáng tạo của diễn viên.
Sân khấu đã áp sát vào các vấn đề của đời sống như thế nào trong sáng tác kịch bản, dàn dựng?
Dàn dựng kịch hình thể, sân khấu nhỏ, học tập tinh hoa của nghệ thuật sân khấu thế giới như thế nào?
Điện ảnh
Điện ảnh Việt Nam còn dẫm chân tại chỗ, chưa có ảnh hưởng đáng kể vào nền điện ảnh thế giới.
Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, đòi hỏi tài năng và tay nghề trình độ cao, bậc thầy, kỹ nghệ làm phim tiên tiến.
Hiện nay đội ngũ phê bình điện ảnh còn yếu, bởi tầm kiến văn của các nhà phê bình điện ảnh còn mỏng, bị nhiều giới hạn.
Nhiếp ảnh
Hiện chưa làm rõ ranh giới giữa Ảnh nghệ thuật và Ảnh tân văn, thời sự.
Theo chúng tôi chỉ có ảnh nghệ thuật mới thuộc phạm vi của phê bình nhiếp ảnh. Còn ảnh tân văn, báo chí là thuộc lĩnh vực của báo chí, truyền thông. Trong phê bình nhiếp ảnh không cần phải bình luận dài dòng. Chọn được ảnh đẹp đưa ra để bình đã là làm xong 1/2 công việc phê bình rồi! Phần còn lại là đôi lời của nhà phê bình về dụng công nghệ thuật của NSNA trong bố cục, thời khắc bấm máy, màu sắc, đường nét, khuôn hình và ánh sáng… làm nên sự hấp dẫn và cái đẹp của tấm ảnh là đủ.
Âm nhạc
Phê bình âm nhạc cực khó.
Nhà phê bình âm nhạc giỏi là phải biết diễn giải cảm xúc của mình khi nghe một tác phẩm âm nhạc; tác phẩm đánh thức người thưởng ngoạn những điều gì trong thế giới tâm hồn con người ta? Âm nhạc “thanh lọc” tình cảm để con người hướng thiện, hướng về cái Đẹp như thế nào? Phê bình âm nhạc là phải nói sâu về cái gợi ra của tác phẩm âm nhạc hay; là sự “tri âm” của những tâm hồn đồng điệu, đồng cảm đến với nhau.
Múa
Phê bình múa không dễ. Ta đã có những giá trị của múa truyền thống dân tộc. Về múa ba-lê, ta còn ở trình độ thấp. Nghệ thuật biên đạo múa rất quan trọng, gần đây có sự trùng lặp, khuôn thức trong xây dựng các hình tượng múa. Khi phê bình, sự tinh tế, tài năng của diễn viên múa cần phải phân tích trong khi khẳng định giá trị của loại hình nghệ thuật biểu diễn bằng hình thể, động tác của con người này. Bài phê bình nên kèm theo những ảnh minh họa về vở diễn với diễn xuất tài hoa của diễn viên thì mới có sức thuyết phục!
Kiến trúc
Kiến trúc là sự tổng hợp của nghệ thuật xây dựng và nghệ thuật tạo hình. Phê bình phải làm rõ mục đích của công trình kiến trúc (công năng của nó và lựa chọn vật liệu xây dựng phù hợp) gây hiệu quả sử dụng và hiệu quả thẩm mỹ như thế nào?
Đẹp, tiện dụng, bền vững là giá trị tổng hợp của công trình kiến trúc kiệt tác, kết hợp được tính dân tộc và tính hiện đại trong hình khối không gian kiến trúc, trong tính biểu trưng của hình tượng tác phẩm thể hiện.
Bài phê bình cũng cần hỗ trợ bằng các ảnh chụp công trình kiến trúc từ nhiều góc độ khác nhau để người đọc hình dung ra sự hoàn mỹ của công trình. Các ghi chú về thiết kế kích thước, độ lớn của công trình kiến trúc và chất liệu xây dựng cũng rất quan trọng.
Văn nghệ dân gian và Văn nghệ các dân tộc thiểu số
Là 2 khu vực đặc thù, trong đó có sự tổng hợp các ngành văn học nghệ thuật căn cứ vào sự loại biệt của đội ngũ tác giả:
– Tập thể dân chúng, từ lâu đời truyền lại (văn nghệ dân gian);
– Các tác giả là người dân tộc thiểu số.
Khi phê bình tác phẩm, tác giả ở 2 khu vực này cần đi sâu vào giá trị, đặc sắc dân tộc về tư duy nghệ thuật và hình thức biểu hiện nghệ thuật trong các loại hình nghệ thuật của chúng, tức là cần có sự so sánh với các khu vực tác giả khác của nền văn học nghệ thuật Việt Nam.
Tóm lại phê bình văn học nghệ thuật cần có kiến văn phong phú, uyên bác của một đội ngũ nhà phê bình chuyên nghiệp. Họ cần được đào tạo chu đáo hoặc tự đào tạo công phu, có tài năng và phẩm chất nghệ sĩ của chuyên ngành mà mình phê bình. Đồng thời họ cũng cần có một năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ viết, nói về các vấn đề thuộc chuyên ngành nghệ thuật mà mình phê bình để bài có sức hấp dẫn, có tính văn học, có khả năng lôi cuốn người đọc. Nói cách khác, họ cần phải là nhà văn cầm bút viết phê bình về văn học, nghệ thuật.
Từ trước đến nay, số nhà phê bình các chuyên ngành nghệ thuật viết phê bình hay như: Hải Triều, Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Tuệ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Xuân Khoát, Trần Duy, Nguyễn Phi Hoanh, Chu Quang Trứ, Trần Văn Khê, Ngô Phương Lan, Nguyễn Thị Minh Châu, Từ Chi, Trần Quốc Vượng, Thái Bá Vân, Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng, Lê Thiết Cương… còn rất hiếm. Đa phần viết mà chất văn trong câu chữ yếu, cảm xúc nghèo nàn, không đủ chữ để diễn đạt cảm nhận từ gan ruột của mình, thiên về liệt kê tên tác phẩm, tác giả và nội dung chủ đề của tác phẩm. Bài viết như vậy chỉ có giá trị tư liệu là chính, không đạt yêu cầu của bài phê bình nghệ thuật đích thực.
Vì vậy nhiều người phê bình VHNT cần nỗ lực hơn nữa, thể hiện tính chuyên nghiệp của tài năng và tâm huyết với nghệ thuật, là văn nghệ sĩ đồng nghiệp, cầm bút viết phê bình về tác gia, tác phẩm trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam, thúc đẩy sự sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao.
N.N.T
Nguồn: vanhocquenha

Lý luận phê bình âm nhạc Hà Nội thập niên đầu thế kỷ XXI: Áo gấm đi đêm

Nguyễn Thị Minh Châu
Lí luận phê bình luôn bị đòi hỏi phải chơi ở vị trí đa năng: đồng hành với sáng tác đã đành, đôi khi còn vượt lên trước để dự báo cho tương lai và lùi lại sau để đánh giá những gì đã qua.

Cứ chiểu theo yêu cầu đó mà xét thì ngành này chưa bao giờ được khen là đạt chuẩn, là mạnh mẽ, kể cả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng, kể cả lí luận phê bình âm nhạc của cả nước hay chỉ riêng Hà Nội, kể cả tiến trình hình thành nền lí luận phê bình âm nhạc hoặc chỉ riêng thập niên đầu thế kỉ XXI.

Lời đánh giá được nghe nhiều nhất trong giới nhạc hiện nay là: các nhà lí luận im hơi lặng tiếng, các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp xa rời thực tế, còn cái gọi là phê bình âm nhạc quá nghiệp dư và lệch chuẩn.

Thực tế có phải vậy không?

Giữa bức tranh đa dạng của âm nhạc Hà Nội, tôi xin tự khoanh vùng trong cái “nhìn lại” chuyên ngành lí luận ở thập niên khởi đầu thế kỉ – một thế kỉ vẫn còn đầy bí ẩn, khó đoán trước, chen lẫn nhiều khát vọng hi vọng với những lo âu phập phồng không chỉ cho đời sống xã hội của đất nước, mà còn cho cả nền văn hóa nghệ thuật nước nhà, cho âm nhạc Hà Nội nói chung và cho riêng ngành lí luận âm nhạc tại thủ đô.

Trước hết thử nhìn lại những gì đã làm được, cũng là để từ đó thấy rõ hơn những gì chưa làm, những khoảnh trống cần bù đắp trong những thập niên tới. Thực lòng tôi rất muốn tránh từ “thành tựu”, bởi trong phong trào chạy theo thành tích ảo hiện nay trong mọi ngành nghề, từ này có mặt trong các văn bản báo cáo các cấp các ngành nhiều đến mức chẳng còn tính thuyết phục, thậm chí còn gây dị ứng cho những người làm nghề một cách trung thực – thực việc, thực tài và thực tâm.

Vốn là đất mạnh về nghiên cứu, Hà Nội cũng là nơi có nhiều đất sống nhất cho lĩnh vực lí luận phê bình âm nhạc. Chỉ riêng hoạt động lí luận âm nhạc thủ đô cũng đủ phác ra những nét chính trong bức tranh toàn cảnh của nền lí luận âm nhạc nước nhà.

Nếu làm một biểu đồ cho nghiên cứu âm nhạc, thì thập niên đầu thế kỉ XXI chắc chắn chiếm đỉnh cao nhất với số lượng đầu sách lớn nhất và chất lượng nội dung phong phú chưa từng có trước đây. Hà Nội có thể tự hào về điều này, bởi riêng sự kiện Thăng Long tròn 1000 năm tuổi cũng đã thúc đẩy không chỉ phong trào viết tác phẩm ngợi ca, mà còn những cuốn sách tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá, biên soạn và giới thiệu thành quả âm nhạc của thủ đô.

Đáng kể nhất về đề tài Hà Nội phải kể đến bộ sách 5 cuốn 1000 năm âm nhạc Thăng Long – Hà Nội (Bộ VH-TT-DL Nxb Âm nhạc, 2010), Ca khúc Hà Nội thế kì XX và những năm đầu thế kỷ XXI (Hội Âm nhạc Hà Nội, 2010). Cũng nhân dịp này các nhà nghiên cứu âm nhạc của thủ đô còn trình làng Tổng tập âm nhạc Việt Nam – Tác giả và tác phẩm (Viện Âm nhạc, 2010). Và, hoành tráng nhất không chỉ riêng trong lĩnh vực lí luận phê bình âm nhạc, mà so sánh với cả lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung, thì phải nhắc đến bộ sách đồ sộ 5 tập 7 cuốn của nhóm tác giả thủ đô: Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu – lí luận – phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỉ XX (Viện Âm nhạc, 2003-2004).

May mắn được tham gia vào nhóm tác giả của tất cả những bộ sách nói trên, tôi thấu hiểu hơn cả nỗi nhọc nhằn và nỗ lực của người trong cuộc. Để có được tiếng nói đại diện cho giới lý luận âm nhạc, để có được những phần viết vừa đảm bảo tính khoa học vừa có tính phổ cập, chúng tôi không chỉ lao tâm khổ tứ mà còn buộc mình tự lớn thêm trước mỗi công trình, để xứng với trách nhiệm mà mình phải gánh lấy.

Chỉ tiếc, công sức viết ra những bộ sách kể trên và cả nhiều cuốn khác ra đời trong thập niên này giá như được độc giả biết đến và được ghi nhận một các xứng đáng. Làm sao có thể đòi hỏi các tác giả mãi tận tâm tận lực vì chất lượng các công trình khoa học nếu thù lao chất xám quá rẻ và không đủ sống? Làm sao khích lệ được các nhà lí luận âm nhạc cứ âm thầm cống hiến nếu những đứa con tinh thần của họ toàn chung số phận tồn kho xếp xó? Chỉ cần các nhà quản lí tháo gỡ được mọi khúc mắc liên quan đến hai câu hỏi trên thôi, cũng đủ tạo nên môi trường đáng ao ước cho ngành lí luận phê bình âm nhạc nước nhà.

Về diễn đàn báo chí âm nhạc ở Hà Nội phải kể đến cánh chim đầu đàn tạp chí Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Một tạp chí chuyên ngành có thâm niên nhất và có uy tín nhất trong suốt những tháng năm khó khăn của thế kỉ XX nay lại phải gồng mình chống chọi với sóng gió của thị trường cạnh tranh báo chí để tồn tại. Tồn tại được đã là kì tích, song trước sự sống còn của tạp chí, với tình cảnh trông chờ vào tài trợ cá nhân và buộc phải đáp ứng cả với thị hiếu đại chúng thì chất lượng rồi sẽ ra sao là điều không dễ trả lời.

Trong lúc tạp chí Âm nhạc cố loay hoay tìm đường hội nhập với đời sống âm nhạc đại chúng, thì vai trò tạp chí chuyên ngành thực sự ở thập niên đầu thế kỉ XXI đã chuyển sang một địa chỉ khác: đó là tờ Thông báo khoa học của Viện Âm nhạc, một tạp chí nghiên cứu âm nhạc nghiêm túc và có uy tín không chỉ trong mà cả ngoài nước (in hai thứ tiếng). Chỉ có điều, từ khi chính thức mang tên Tạp chí Nghiên cứu âm nhạc, ban biên tập lại phải đối mặt với những yêu cầu thực tại, mà đáng tiếc đó có thể là nguyên nhân dẫn đến bước lùi về chất lượng.

Ta vừa điểm qua sách báo chuyên ngành. Còn các chuyên mục âm nhạc của gần 800 báo giấy, 200 đài phát thanh, 200 đài truyền hình, 700 báo điện tử và hàng ngàn website thì sao?

Tiếng nói phê bình chuyên nghiệp trên báo giấy gần như bị chìm nghỉm. Trăm sự vẫn đổ tại ngành lí luận âm nhạc yếu kém. Song công bằng mà nói, vẫn có những bài viết đúng nghĩa với phê bình âm nhạc, chỉ có điều chúng cũng chịu chung số phận của sách phê bình: ế!

Cách làm báo hiện nay nặng về đưa tin, chỉ cần bài viết trước sự kiện chứ không quan tâm tới bài viết sau, vì thế người làm báo càng tha hồ múa bút thì người làm nhạc (lí luận âm nhạc) phần lớn muốn gác bút. Cũng công bằng mà nói thêm về vai trò các nhà báo, phóng viên: trong đa số “làm hàng” quảng cáo, “buôn chuyện” ngoài lề vẫn có những cây bút nghiêm túc, gồng mình đóng thế các nhà lí luận chuyên ngành. Vì thế, dù gì đi nữa thì ngành lí luận âm nhạc vẫn phải cám ơn họ đã xông xáo mang hộ gánh nặng mà lẽ ra các nhà lí luận cần gánh lấy.

Báo hình báo tiếng ngày càng phong phú hơn, bắt gặp nhiều hơn những khuôn mặt chuyên ngành lí luận âm nhạc trong các cuộc đối thoại trên đài phát thanh và truyền hình về những vấn đề nóng, những bất cập trong sinh hoạt âm nhạc. Ít còn hơn không. Tuy nhiên hiệu quả những cuộc trò chuyện đó còn phụ thuộc vào người biên tập chương trình đã đủ bản lĩnh và hiểu biết về âm nhạc hay chưa. Đây chính là lí do một số nhà nghiên cứu kĩ tính không nhiệt tình tham gia các chương trình truyền hình.

Từ lâu Hội Nhạc sĩ rất mong muốn có kênh truyền hình riêng để quảng bá âm nhạc chính thống. Tôi hình dung một kênh truyền hình của “quân ta” như thế chắc chắn sẽ quy tụ được nhiều người làm nhạc, trong đó lực lượng chính hẳn nhiên vẫn là người Hà Nội.

Trong khi chưa biết đến bao giờ thực hiện được ước mơ trên, việc quảng bá “nhạc sạch” hữu hiệu nhất là website. Website Hội Nhạc sĩ đang gồng mình đóng vai trò tờ báo điện tử – tiếng nói chính thức của những người làm nhạc chuyên nghiệp. Ở thời đại công nghệ thông tin toàn cầu, đây là phương tiện tuyệt vời tổng hợp cả chức năng báo giấy – báo hình – báo tiếng, có thể phủ sóng tới mọi nhà cả trong và ngoài nước, nối dài thêm diễn đàn trao đổi của các hội thảo.

Trong những năm gần đây, thay vì tổ chức toàn quốc tốn kém hình thức lớn mà hiệu quả ít, Hội Nhạc sĩ tổ chức hội thảo trong các liên hoan Âm nhạc khu vực mỗi năm khoảng 3-4 lần. Những bài viết trong hội thảo được đăng tải trên website Hội, để cuộc trao đổi có thể tiếp tục với sự tham gia của cả những ai không đến được hội thảo.

Không giới hạn không gian, thời gian và đối tượng, việc tranh luận trên web không chỉ dành cho những người làm nhạc, mà cả công chúng, đặc biệt giới trẻ là đối tượng sử dụng internet như cơm bữa. Chú trọng phát huy thế mạnh của website cũng chính vì sự lan tỏa và sức thu hút của nó đối với tuổi trẻ, bởi một nền âm nhạc sẽ không có tương lai nếu đánh mất công chúng trẻ. Điều mà những người làm web chúng tôi vẫn băn khoăn chính là đối tượng già và nhiều người không còn trẻ gần như không tiếp cận với báo mạng. Đã một năm chuyển đổi từ địa chỉ cũ vnmusic sang phiên bản 3 mà mới đây vẫn nhiều bác chưa già hỏi tôi: vào vnmusic.com.vn sao chẳng thấy bài mới, báo mạng Hội Nhạc sĩ chết rồi à?

Ngay từ khi mới khôi phục cách đây ba năm đến nay, website hoinhacsi.org luôn dành chỗ ưu tiên cho tin tức và hình ảnh của Hội Âm nhạc Hà Nội. Mong mỏi website Hội Âm nhạc Hà Nội sớm ra đời trong năm 2014 để giới làm nhạc và yêu nhạc Hà Nội có thêm một diễn đàn liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Thôi thì trong cảnh con nhà nghèo với nhau, trong khi không đủ kinh phí và nhân lực để làm báo giấy và tạp chí, ta cứ tận dụng công nghệ thông tin để làm báo mạng. Đó là cách khả dĩ nhất hiện nay để quảng bá nhạc sạch và và bớt cảnh “chất xám đi đêm” cho các nhà lí luận phê bình chuyên nghiệp.

Nhìn lại để rồi nhìn tới, tiếp tục hi vọng có một ngày đẹp trời không còn cảnh thù lao yếu và diễn đàn thiếu, một ngày mà Hà Nội có thể tự hào đã góp phần đáng kể nhất cho một nền phê bình âm nhạc đa dạng và đa năng, nhạy bén và chuyên nghiệp, biết phản biện và cảnh báo, biết khuyến khích và gợi mở vì sự phát triển chung của nghệ thuật âm nhạc nước nhà.

28-12-2013

Ca sĩ không học chỉ là “con hát”

Nghệ sĩ ưu tú Phan Thu Lan

SGTT.VN – Trước khi trở thành giảng viên thanh nhạc và trưởng khoa thanh nhạc nhạc viện Quốc gia Hà Nội, hát là nghề mưu sinh của chị. Trên làn sóng phát thanh của đài Tiếng nói Việt Nam thập kỷ 1980 – 1990, Thu Lan là một trong những tên tuổi được thính giả yêu âm nhạc chờ đợi, không chỉ bởi chất giọng đẹp, tố chất opera bay bổng và nỗi niềm dân ca mặn mà trong từng câu hát, mà còn bởi thế giới trong vắt và mộc mạc chị đem đến cho người nghe.

 

 

Trên bục giảng, giọng hát của chị là một dẫn dụ tuyệt vời. Và giấc mơ đẹp nhất về nghề mà mỗi ngày chị đang nỗ lực truyền dạy, đáng tiếc là không phải học sinh thanh nhạc hay ca sĩ trẻ nào cũng có thể lĩnh hội…

Vì sao câu chuyện “trách nhiệm xã hội” của người nghệ sĩ đến hôm nay vẫn chưa được thấu đáo ở một số ca sĩ trẻ cho dù họ được đào tạo bài bản, thưa chị?

Rất nhiều lý do. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến sự tự rèn luyện của các em, tấm lòng của các em. Nếu chỉ nghĩ hát là để mưu sinh, để kiếm tiền, thì sẽ không có trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân nào hết, dù các em hàng ngày ngoài học hát, học các môn văn hoá bổ trợ, vẫn thường xuyên được rèn dạy về đạo đức nghề nghiệp, về sự cống hiến. Rất khó để ca sĩ trẻ nào cũng thấm nhuần được điều này. Mới đây, có trường hợp một học sinh xuất sắc, rất được kỳ vọng, được cử đi học nước ngoài, về trường giảng dạy một thời gian ngắn lại được đi học tiếp, đã ở lại bên đó và bỏ nghề luôn, chưa kịp cống hiến gì. Tiếc lắm. Thực tế đó khiến tôi cũng nhiều khi phải nghĩ rằng, sự thực dụng của người làm nghệ thuật luôn là một trong những hạn chế, dẫn đến thiếu vắng đỉnh cao.

Liệu điều đó có thể lý giải cho việc chúng ta đã có một “thế hệ vàng” trong lĩnh vực thanh nhạc từ nửa thế kỷ trước, nhưng từ đó đến nay, ca sĩ nhiều hơn, thành công cũng rất đáng kể, song vẫn không thể sánh được với thế hệ đi trước?

Từ góc độ chuyên môn, có nhiều cách lý giải tại sao trước đây kinh tế khó khăn, kháng chiến gian khổ, Việt Nam lại có được một thế hệ giọng ca vàng, thành công của họ đã “đóng đinh” vào công chúng, vào lịch sử đất nước; mà về sau, hoà bình rồi, thuận lợi hơn, học sinh được đào tạo bài bản hơn, thì không có một thế hệ nào ngang tầm. Đó là do môi trường cống hiến của người nghệ sĩ. Khi họ chỉ có đam mê, chỉ có cho mà không bị chi phối bởi những đồng tiền cátsê, họ sẽ cống hiến hết mình, lúc đó tài năng của họ sẽ có cơ hội toả sáng hơn mọi hào quang tự tạo nào khác!

Có ý kiến cho rằng du học nước ngoài mới là cơ hội tốt nhất cho những tài năng nghệ thuật, chị có nghĩ vậy?

Phải nói rằng, trước hết, tài năng âm nhạc của chúng ta không thiếu, nhưng những tài năng đặc biệt thì không phải lúc nào cũng có. Năng khiếu trời cho, nếu được đào tạo đúng cách và hiệu quả, mới có điều kiện phát triển. Chỉ nói những nghệ sĩ tên tuổi và có thành tựu nhất định trong lĩnh vực biểu diễn của ta, trong đó có thanh nhạc, như thế hệ “vàng” vừa nhắc đến ở trên, hầu hết đều được đào tạo ở nước ngoài về. Tiếc rằng thời gian qua, do ngân sách không cho phép, việc đầu tư này bị đứt đoạn ở các cơ sở đào tạo âm nhạc trong nước. May mà mấy năm nay Nhà nước đã cho phép tiếp tục đầu tư trở lại cho một số ít học sinh du học ở Nga, Hungary, Rumani…, hy vọng sẽ có sự khởi sắc sau 40 – 50 năm nữa.

Nhạc viện Quốc gia chú trọng dạy thật, đào tạo thật, rất nghiêm túc; học sinh được trang bị nhiều kiến thức cần thiết khác như lịch sử âm nhạc, hoà thanh, phân tích tác phẩm, piano, ngoại ngữ… nhưng đào tạo trong nước dù đã có những nỗ lực và thành công, vẫn chưa thể “sánh vai” với các địa chỉ đào tạo âm nhạc lớn trên thế giới!

Trở thành giảng viên thanh nhạc và đang ấp ủ dự định về một luận án tiến sĩ ngành biểu diễn thanh nhạc, chị quan niệm thế nào về “sự học” của người ca sĩ hôm nay?

 

Sự thực dụng của người làm nghệ thuật luôn là một trong những hạn chế, dẫn đến thiếu vắng đỉnh cao.

Thường ngày, tôi vẫn rất chia sẻ với các em học sinh của mình về việc học. Rất khó khăn, rất vất vả, rất cần có ý chí. Nếu các em đã chọn con đường hoạt động âm nhạc, nhất định phải có kiến thức mọi mặt, cơ bản về âm nhạc, nếu không sẽ chỉ là “con hát”. Là ca sĩ, bắt buộc phải biết những điều tối thiểu: ca khúc A, B thuộc thể loại gì, cấu trúc như thế nào, viết ở hình thức gì, cần phải diễn đạt ra sao… từ đó mới tự tin bước lên sân khấu được. Ngay cả với một giọng hát được cho là “trời phú” chăng nữa, vẫn phải học. Cá biệt vẫn có giọng hát không qua trường lớp nào mà vẫn thành danh, thậm chí còn được phong danh hiệu nghệ sĩ nhân dân. Phải thừa nhận tài năng thiên bẩm, sự cảm thụ âm nhạc, ngoại hình, những cơ duyên trong nghệ thuật cũng như sự khổ luyện, tự học của họ…

 

Những năm 1990, thị trường âm nhạc mở ra nhưng biên chế các đoàn nghệ thuật thì khép lại, chị đã lựa chọn bục giảng thay vì lên sân khấu như thế nào?

Tốt nghiệp đại học về thanh nhạc vào đúng thời kỳ nhạc thị trường bắt đầu bùng nổ, chủ trương “xã hội hoá” bắt đầu được áp dụng vào thực tiễn, vì thế mà trầy trật đi hát mãi tôi vẫn không đứng chân được ở đâu. Biên chế các đoàn nghệ thuật không được phép “nới” thêm, “bao cấp” không còn hoặc không như trước. Dù vậy tôi vẫn may mắn hơn nhiều người khác, trở thành nhà giáo. Cùng dòng nhạc chính thống và được đào tạo chính quy thời điểm đó ngoài tôi còn có ca sĩ Mai Tuyết, ca sĩ Rơ Chăm Pheng… đều trong hoàn cảnh như vậy. Ba chúng tôi hiện đều là nghệ sĩ ưu tú trong lĩnh vực biểu diễn và có nghề chính là dạy thanh nhạc ở ba cơ sở đào tạo âm nhạc trên địa bàn Hà Nội.

Từ sân khấu đến với bục giảng và nuôi dưỡng đam mê nghề nghiệp ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, hẳn đó không phải là câu chuyện của riêng chị?

Để trụ lại với nghề, mỗi nghệ sĩ có một cách. Bên điện ảnh có không ít nghệ sĩ kiêm thêm nghề trang điểm, cho thuê áo cưới. Tôi cũng có thời gian phải tranh thủ cắt may quần áo cho các diễn viên trong đoàn để có thêm thu nhập đủ sống và theo đuổi nghề chính. Đến năm 1995 thì tôi tích luỹ được đủ tiền để mua xe máy đi làm và bắt tay thực hiện kế hoạch đầu tư cho chuyên môn, học cao học và làm thạc sĩ chuyên ngành biểu diễn. Tôi nghĩ, đó có lẽ là quãng đường khó khăn nhất mà mình và các đồng nghiệp đã vượt qua.

Là nhà giáo, chị nghĩ thế nào về chuyện học sinh trường nhạc tranh thủ đi làm thêm?

Phải nói từ năm, bảy năm nay, nhu cầu ca sĩ, nhạc công phục vụ các sân khấu lớn nhỏ khá lớn, chưa kể các quán xá, nhà hàng mở ra nhiều, người ta đi ăn uống và có nhu cầu được nghe nhạc, nghe hát… Và vì thế thu nhập từ việc đi hát cũng tăng lên. Điều đó cũng có ý nghĩa tích cực, tác động đến các học sinh trường nhạc, khi mà phần lớn các em đều ở tỉnh xa về, cha mẹ nghèo, đời sống sinh viên kham khổ. Trong mười em đang học, nhiều nhất là một nửa số đó có thể đi biểu diễn và đa phần chỉ được mời diễn ở các quán bar, đám cưới, lễ khởi công hay cuộc vui nào đó, thù lao có khi chỉ 100.000 đồng/suất diễn. Thế nên số em có thể tự nuôi sống được bản thân bằng nguồn này thực ra chỉ khoảng vài em. Nói chung là các gia đình vẫn phải chu cấp cho con cái thành nghề. Ở đây có một vấn đề đáng nói là, đối với những em có trình độ nhất định, có thể đi hát kiếm tiền để phụ thêm vào chi phí hàng ngày, nhưng dù đi làm hay đi chơi thì nhất thiết không để ảnh hưởng đến chất lượng học tập và tư cách.

Trước những thực tế đời sống liên quan đến nghề hát và nghề dạy, tâm trạng của chị – một người “trong cuộc”?

Nhiều em 20 ngày trong tháng chỉ ăn mì tôm vì không có tiền. Có em mùa đông không đủ áo mặc, cô cũng không giàu có gì, chỉ có thể dắt đi mua tặng cái áo ấm. Biết rõ các em đa số rất nghèo nên tôi thực sự chia sẻ với các em, không khắt khe chuyện đi làm thêm, nhưng mỗi khi có dịp tôi vẫn tìm cách nhắc nhở: “Nếu ai mời đi hát, hãy coi đó là cơ hội tập dượt cho nghề nghiệp, đừng đặt mục tiêu kiếm tiền lên trên mà bị coi thường!” Làm sao để mai kia ra trường, các em như chim non đủ lông đủ cánh, rồi mới có thể lên sân khấu lớn được. Vấn đề quan trọng nữa là cô nói, nhưng trò có nghe không, nghe đến đâu. Cũng giống như trong gia đình, bố mẹ muốn điều tốt đẹp, con cái lại muốn khác. Đó luôn là khó khăn trong giáo dục! Càng ngẫm tôi càng thấy thương học trò. Nhiều em cả đời không có cơ hội bước ra sân khấu. Khoa thanh nhạc trường tôi mỗi năm có 15 – 20 em ra trường, năm ngoái đông nhất: gần 40 em. Chừng đó có đủ cho nhu cầu nghe? Xin thưa là quá thừa, vì không chỉ mỗi nhạc viện Quốc gia đào tạo. Dẫn đến học hát nhưng không phải ai tốt nghiệp ra cũng đi làm ca sĩ. Một số chuyển nghề về giảng dạy ở tỉnh, một số khá hơn được một số đoàn ở Hà Nội ký hợp đồng, một số khác làm ca sĩ tự do, ca sĩ không chuyên. Nhìn chung để phấn đấu thành một giọng hát nổi trội, có cống hiến thực sự, nổi bật trong đời sống âm nhạc, gian nan lắm.

Dưới sự dìu dắt của chị, những năm qua đã có khá nhiều ca sĩ trẻ giành được các giải thưởng nhất nhì tại các cuộc thi hát như Sao Mai, Sao Mai Điểm Hẹn… Có điều gì đáng suy nghĩ đằng sau cuộc sống của các “sao”, thưa chị?

Giấc mơ thành “sao” là chính đáng và phải nói đến tính hai mặt của các cuộc thi, những thành công đến sớm. Có em đã bỏ dở việc học để đi hát. Đặc biệt là các em nữ, do được mời chào nhiều, cũng đã có trường hợp bị “tai nạn nghề nghiệp”, không thể học tiếp bởi nhiều lý do mà hầu hết đều có trong đó sự cám dỗ của đồng tiền… Thầy cô cũng chỉ có thể đánh động từ xa, bày vẽ điều gì có lợi cho các em và hy vọng sự cứng cỏi, vững vàng dần lên của các em trong nghề và trong đời mà thôi.

Sự thực dụng, dễ dãi đã và đang làm thay đổi hình ảnh người nghệ sĩ biểu diễn trước mắt công chúng, thưa chị?

Quả có thế. Con đường đi đến sự thành công rất cần sự chuyên nghiệp, bài bản. Phải hội đủ nhiều yếu tố như đam mê, năng khiếu, dày công khổ luyện và may mắn là không thể thiếu. Cái giá của sự nổi tiếng chính là vấn đề. Nhiều người trẻ mới được vài giải này nọ cứ ngộ nhận là “sao” thật, trong khi về nghề thì họ đó còn phải phấn đấu rất nhiều, phấn đấu mọi thứ, để có thể tiếp tục đứng được với nghề, toả sáng và có tên tuổi.

Liên quan đến chuyên môn, ý kiến của chị về tình trạng hát nhép hiện vẫn rất phổ biến, kể cả ở một số chương trình lớn, có truyền hình trực tiếp?

Thăng hoa ở người nghệ sĩ là biểu diễn trực tiếp, không phải ở hát nhép. Tình trạng chung của nhiều chương trình là toàn mở băng rồi hát nhép. Ngay cả một số nghệ sĩ có tên tuổi vẫn hát nhép. Hát nhép như vậy chỉ làm hại chính họ. Có thể không mất sức nhưng mất uy tín. Giá trị của lao động không có. Có những chương trình mà các bên tham gia chủ động yêu cầu ca sĩ hát… nhép, là bởi mục đích “tránh rủi ro”, thậm chí là để tiết kiệm việc mời dàn nhạc tốn kém… Đáng tiếc cho những cách làm nghệ thuật xem thường người nghe và xem thường chính mình như thế.

Đó là một sự lừa dối không thể bao biện?

 

Nếu các em đã chọn con đường hoạt động âm nhạc, nhất định phải có kiến thức mọi mặt, cơ bản về âm nhạc, nếu không sẽ chỉ là “con hát”.

Tôi đồng ý. Hát nhép chỉ xuất hiện khi có âm nhạc thị trường. Thập niên 1970 – 1980, có ai hát nhép đâu. Ca sĩ trẻ cũng vậy, vẫn thích hát thật hơn, nhưng rồi để được tham gia chương trình trong điều kiện hạn chế về thời gian và tiết kiệm cho nhà sản xuất (hát thật phải đầu tư đủ dàn nhạc tốn kém, tập dượt sân khấu và ghép nhạc rất công phu), họ đã dần “quen” với việc hát nhép, thậm chí coi đó là… bình thường! Rất đáng buồn là nhiều ca sĩ đã bị làm hư như vậy. Tất cả là do những con số lời lãi mà ra. Cục Nghệ thuật biểu diễn đã liên tiếp phải xử lý những chuyện này, nhưng giải quyết được triệt để 100% là khó. Trong nhà trường, học sinh thanh nhạc luôn được các thầy cô lưu ý chuyện này, coi đây là đạo đức, là tự trọng nghề nghiệp. Phải hát thật. Đó là lao động nghệ thuật chân chính. Mới đây chương trình kỷ niệm mười năm ngày mất Trần Hoàn tại nhà hát Lớn, ban tổ chức yêu cầu hát thật 100%, có những ca sĩ tên tuổi đã phải rút lui vì không đủ sức hát bằng đúng giọng của mình.

 

Về những hạn chế có thật của công tác đào tạo tài năng nghệ thuật mà chị là một trong những người có trách nhiệm?

Cái thiếu nhất của đào tạo thanh nhạc trong nước hiện nay là học sinh chưa được đào tạo ngoại ngữ bài bản để có thể hát những tác phẩm của Anh, Pháp, Ý… Ngay cả các môn bổ trợ như diễn xuất sân khấu, kỹ thuật biểu diễn sân khấu hiện vẫn còn “nợ” học trò, từ trước đến nay đều để khuyết trong chương trình, biết lắm nhưng vẫn chưa đáp ứng được do… thiếu kinh phí. Có một tin vui là sắp tới trường tôi sẽ khánh thành một nhà hát trên 700 chỗ bằng nguồn kinh phí trên cho, phía Nhật giúp về thiết bị âm thanh, dự kiến cuối năm nay mở cửa. Nhiều thầy trò chúng tôi đã thầm mơ ước nơi đây luôn sáng đèn để đón các tầng lớp công chúng yêu âm nhạc vào thưởng thức. Một cơ may quý giá cho thầy và trò trường nhạc được thoát khỏi dạy chay, học chay. Nhu cầu được hát có ở mọi sinh viên. Đam mê nghề mà, cứ nói đến hát là thích rồi.

Sau những khó khăn đã trải, những thách thức nghề nghiệp, với cô giáo – ca sĩ Thu Lan, đâu là giai điệu đẹp nhất trong cuộc sống?

Với tôi, giai điệu đẹp nhất trong cuộc sống luôn là những bản tình ca!

THỰC HIỆN: KIM HOA

CHÂN DUNG HỘI HOẠ: HOÀNG TƯỜNG