THÚ THƯỞNG THỨC NHẠC ĐÀN CỦA NGƯỜI XƯA QUA TRUYỆN KIỀU

 

Đặng Hữu Phúc

Âm nhạc, theo sự hiểu của đại đa số quần chúng Việt nam hiện nay, chỉ có nghĩa là ca khúc. Và nhạc sỹ, cũng là những người viết ca khúc. Người chỉ viết khí nhạc mà không viết ca khúc thì ở ta cũng chả ai biết là nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn nhạc đàn dù tài giỏi như Đặng Thái Sơn cũng không thể có những fan hâm mộ khắp đất nước như các “Sao” hát ca khúc quần chúng, ca khúc thị trường. Ngày nay, nghe nhạc gần như đồng nghĩa với nghe ca khúc.

Vậy người xưa, nhất là các bậc tài tử văn nhân (tương tự như tầng lớp tri thức ngày nay) khi nghe nhạc, họ nghe nhạc đàn, hay nghe hát nhiều hơn? để trả lời câu hỏi này tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài suy nghĩ về ‘Thú thưởng thức nhạc đàn của người xưa qua Truyện Kiều” Tác phẩm văn học cổ điển đỉnh cao của Việt nam. Ôn cố, tri tân.

Âm nhạc có vị trí đặc biệt nổi bật trong truyện Kiều của Nguyễn Du, (trong Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, tài làm thơ của Kiều được nhấn mạnh hơn tài nhạc của nàng) nàng Kiều đa tài, đủ cả  Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ, Nhưng nổi bật nhất vẫn là tài đàn (“Rằng nghe nổi tiếng cầm đài”). Cái tài này như một thứ định mệnh, gắn chặt vào mỗi bước thăng trầm của cuộc đời nàng, đến nỗi Kiều còn tự nhủ rằng tiếng đàn là nguyên nhân của sự đoạn trường của mình:

“Nàng rằng vì chút nghề chơi

Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”.

Nguyễn Du (1766–1820)

Ai đã đọc truyện Kiều, đều thấy rằng: âm nhạc trong truyện Kiều, nghĩa là nhạc đàn, là khí nhạc. Vậy sao lại là khí nhạc chứ không phải là thanh nhạc (hát). Và thanh nhạc và khí nhạc khác nhau ở chỗ nào? Và người Á Đông xưa nay đã biết thưởng thức khí nhạc rồi hay sao?

Thanh nhạc là nhạc hát bằng giọng người, nếu ta coi giọng người như một “nhạc cụ” đặc biệt thì ta thấy rõ những giới hạn thể hiện của nó về âm vực, về tốc độ diễn tấu, giới hạn về âm sắc. Người ta thường nói: khi lời nói bất lực thì âm nhạc vang lên, điểm cuối cùng của lời nói, là điểm bắt đầu của âm nhạc (tất nhiên âm nhạc ở đây là khí nhạc). Vậy mà thanh nhạc lại thường lệ thuộc vào lời ca, vào văn học. Chính vì sự giới hạn này. Các nhạc cụ được ra đời để tiếp tục phát triển vượt biên cái mà giọng hát con người không thể làm được, và người ta đã sáng tạo ra nhạc đàn (khí nhạc).

Ngay trong nghệ thuật thanh nhạc cũng có nhiều thể loại chuyên nghiệp khó viết, khó diễn, khó thưởng thức nếu không có kiến thức tương đối về âm nhạc như Opera, Hợp xướng, A cappella, Thanh xướng kịch vv… Trong bài viết này, chủ yếu tôi nói tới thể loại đơn giản, phổ cập nhất của thanh nhạc hiện nay ở Việt Nam là ca khúc quần chúng (có người gọi là Ca khúc phổ thông), là sự kết hợp của ngôn từ và giai điệu nhạc. Nếu tách riêng phần lời ca, thì nó chỉ là Ca từ, chứ chưa thể là thơ (có những bài thơ được phổ nhạc, thì thường bài thơ đã bị người phổ thêm thắt sửa chữa, cắt cúp cho nó đến lúc không còn là thơ “xịn” nữa, để cho phù hợp với câu nhạc). Còn nếu tách riêng phần giai điệu, thì nó cũng đơn giản, chưa được gọi là nhạc thuần tuý,  tấu lên không diễn tả được gì nhiều, và ta vẫn thường gọi là nhạc bỏ lời. Chưa kể việc hầu hết nhạc sĩ của ta chỉ viết có mỗi dòng giai điệu, không có khả năng viết phần đệm, dù là đơn giản, cho chính ca khúc của mình. Đó là bằng chứng sự thiếu chuyên nghiệp của âm nhạc Việt Nam hiện nay.

Tóm lại, ca khúc quần chúng là thể loại nghệ thuật: thơ chưa hẳn là thơ mà nhạc cũng chưa hẳn là nhạc (Á thơ, Á nhạc). Nhưng vì dễ viết, dễ diễn, dễ hiểu, dễ tuyên truyền, nên sáng tác và hát ca khúc là điều hết sức phổ biến, nhất là ở Việt Nam hiện nay.

Lý giải về việc đông đảo công chúng VN chỉ biết thưởng thức Ca khúc quần chúng, một nhà nghiên cứu âm nhạc viết: “So với nền văn chương Việt Nam, phẩm chất của nền âm nhạc Việt Nam rất thấp. Lý do hiển nhiên là vì từ người viết văn đến độc giả, không nhiều thì ít, ai cũng được học văn chương từ bậc tiểu học trở lên, cho nên chúng ta có những người viết và người đọc có trình độ. Còn phần giáo dục âm nhạc thì quả là một sa mạc khủng khiếp. Muốn thưởng thức thơ thì ít nhất phải biết đọc chữ, muốn thưởng thức nhạc thì ít nhất phải biết đọc nhạc. Nếu người không biết đọc chữ, chỉ có thể thưởng thức bằng cách nghe thơ vè bình dân, thì người không biết đọc nhạc cũng chỉ có thể nghe ca khúc phổ thông là cùng”(trích bài “Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20”- Hoàng Ngọc Tuấn).

Vậy cái thú thưởng thức khí nhạc nay đã bị thu hẹp dần dần ở Việt Nam, kể cả trong tầng lớp tri thức, là một bước tiến hay là một bước lùi dài của thẩm mỹ âm nhạc?

Ngưòi Á Đông xưa cho rằng, chơi đàn, nghe đàn (Cầm), là thú vui đệ nhất trong bốn thú vui của các tài tử văn nhân. Cổ ngữ có câu: “Cầm, kỳ, thi, hoạ” chứ không phải là “Ca, kỳ, thi, hoạ”. Tức là nghe đàn, chứ không phải là nghe hát.

***

Để hiểu thêm âm nhạc trong truyện Kiều, chúng ta thử tìm hiểu xem Kiều chơi đàn gì? để xác định điều này, hàng trăm năm nay, người Việt Nam ta đã tốn bao nhiêu giấy mực.

Thuý Kiều (Minh hoạ Vũ Huyên)

Trong nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân (theo bản dịch Kim Vân Kiều của Tô Nam – Nguyễn Đình Diệm. NXB Hải Phòng 1999)  thì Kiều  chỉ chơi duy nhất một loại đàn, đó là Hồ cầm.

Câu thơ đầu tiên nói về tài đàn của Thuý Kiều, Nguyễn Du viết: “Nghề riêng ăn đứt Hồ Cầm một chương”.

Vậy thì tại sao sau đó Nguyễn Du lại có hai câu thơ: “Hiên sau treo sẵn Cầm Trăng”  và “Ép cung Cầm Nguyệt, thử bài quạt thơ”). Liệu có phải Kiều của Nguyễn Du chơi 2 thứ đàn là: Hồ cầm và Cầm Nguyệt  không? Hay 2 thứ đàn đó chỉ là một loại đàn có nhiều tên gọi khác nhau ?

Theo tôi, đây đơn giản là một nhầm lẫn của Nguyễn Du. Vì chỉ trừ có Thượng Đế, còn con người ta ai cũng có thể có chút nhầm lẫn, dù cho người đó là một thiên tài. Tuy vậy theo tôi đây là một nhầm lẫn đáng yêu vì nó đã tạo ra vấn đề cho các nhà lí luận có cái cớ để mà tranh luận, mà suy luận, mà khẳng định, mà bác bỏ lẫn nhau vv…

Tuy vậy ta có thể khẳng định: Kiều chơi một loại đàn có 4 dây, thuộc loại nhạc cụ gẩy trực tiếp bằng đầu ngón tay “So dần dây Vũ dây Văn/ bốn dây to nhỏ theo vần Cung Thương” “Bốn dây như khóc như than”. “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Chữ “bốn dây” được khẳng định 3 lần trong Truyện Kiều.

Trong Truyện Kiều, có 4 lần Kiều chơi đàn tất cả, ngoài ra còn 4 lần khác thì Nguyễn Du chỉ nói qua.

Đầu tiên là do Kim Trọng yêu cầu:

“Rằng nghe nổi tiếng cầm đài

Nước non luống những lắng tai Chung, Kỳ”

Thuý Kiều – Kim Trọng

Lần hai cho Hoạn Thư và Thúc Sinh:

“Rằng Hoa nô đủ mọi tài,

Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe”

Lần thứ ba đàn cho Hồ Tôn Hiến, đây là đoạn Kiều chơi đàn xúc động nhất, người chơi đàn đến “nhỏ máu năm đầu ngón tay” còn người nghe đàn thì rơi lệ:

“Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu

Hỏi rằng: này khúc ở đâu?

Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay”

Hồ Tôn Hiến tuy chỉ là một quan võ, vậy mà cũng rất hiểu nhạc đàn, đến nỗi mê luôn cả nàng Kiều:

“Nghe càng đắm, ngắm càng say

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”

Và cuối cùng lại là Kim Trọng yêu cầu nàng chơi đàn trong đêm tái hợp:

“Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa”

Ta để ý: Tất cả các lần chơi đàn của Kiều đều do người khác yêu cầu. Không thấy câu thơ nào nhắc đến Kiều chơi đàn một mình, kể cả những lúc buồn nhất. Tóm lại, người chơi đàn chỉ chơi khi có kẻ “tri âm” (hiểu âm nhạc)

Những kẻ Tri âm tiếng đàn của Kiều đó là:

Kim Trọng nghe đàn đầy cảm xúc:

“Khi tựa gối khi cúi đầu

Khi vò chín khúc khi chau đôi mày”

Cho tới Hoạn Thư, Thúc Sinh:

“Cùng trong một tiếng tơ đồng

Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”

Và Hồ Tôn Hiến thì khóc như đã nói ở trên. Còn vì sao Kiều không một lần chơi đàn cho Từ Hải? Đơn giản Từ Hải chỉ là một anh võ biền, không có nhu cầu nghe đàn, vì vậy Từ Hải cũng không hề quan tâm hay yêu cầu nàng Kiều chơi đàn.

***

Qua Truyện Kiều, ta thấy người xưa đã trân trọng nhạc đàn, biết nghe, hiểu sâu sắc âm nhạc như thế nào. Điển tích Bá Nha – Chung tử Kỳ có thể nói là một điển tích độc nhất vô nhị về sự chơi (khí) nhạc và nghe (khí) nhạc của người Á Đông xưa.

Qua thơ của Nguyễn Du, trong Truyện Kiều và bài thơ chữ Hán “Long Thành Cầm giả ca” của ông, ta thấy chỉ có khí nhạc mới có thể diễn tả được: “Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa” và cảnh ”…Hán Sở chiến trường, nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau”. Và chỉ có khí nhạc mới có thể có những giai điệu“ Muôn oán nghìn sầu” khiến người nghe “Tan nát lòng”.

Ca khúc (nhất là ca khúc quần chúng) với cấu trúc đơn sơ vài ba chục nốt nhạc, với sự bó buộc của lời ca, và sự hạn chế diễn tấu, làm sao diễn tả nổi những tình cảm bao la như thế, vẽ nên những bức tranh âm thanh đa tầng phức hợp như thế.

Phải chăng Văn hoá, đạo đức, phong tục và thẩm mỹ của người Việt Nam hôm nay đã suy thoái và thụt lùi với chính cha ông chúng ta? Tôi muốn nói tới cái tinh thần của văn hoá cũng như nhiều thú chơi tao nhã cao siêu của người xưa.

***

Khí nhạc ngày nay đã được mở rộng và vô cùng phong phú với di sản âm nhạc của toàn thế giới. Đặc biệt là của dòng nhạc chuyên nghiệp châu Âu với tên tuổi các thiên tài đã trở thành tài sản chung của nhân loại như J.S,Bach, W.A.Mozart, L.v. Beethoven, F.Chopin, P.Tchaikovsky… cho tới các nhạc sỹ cận đại như C.Debussy, M.Ravel, B.Bartok, I.Stravinsky,vv… Và dòng nhạc này vẫn tiếp tục khám phá những điều mới lạ của nghệ thuật âm nhạc.

Beethoven (1770-1827)

Cùng với những tác phẩm bất hủ của họ là những nghệ sĩ biểu diễn lớn như Karajan, Horowitz, Oistrakh, Rostropovich, Kissin, Barenboim…vv và cả Đặng Thái Sơn của Việt Nam nữa.

Đặng Thái Sơn

Cả một kho tàng âm nhạc trí tuệ vô cùng phong phú và đa dạng, dễ dàng khám phá trong thời đại bùng nổ kỹ thuật số, mà ngày xưa chỉ tầng lớp quý tộc, tri thức mới có điều kiện tiếp cận. Hà cớ gì mà những người Việt nam chúng ta, nhất là giới trẻ được học hành và tầng lớp Tri thức, lại không trở thành những kẻ Tri âm của nền nghệ thuật ấy?  Như L.V.Beethoven từng nói: “Âm nhạc cao hơn mọi triết lý và mọi sự khôn ngoan”.

Vì sao Beethoven khẳng định như vậy?

Vì cuộc sống là bao la, nó chứa đựng tất cả các cách lý giải nó của hàng trăm thứ triết lý khác nhau. Mỗi thứ triết lý chỉ phản ánh một phần nhỏ của cuộc sống bao la này, như thầy bói xem voi mà thôi. Cuộc sống chứa đựng tất cả các triết lý chứ triết lý không thể chứa đựng được cuộc sống. Và chỉ có âm nhạc (tất nhiên không bao giờ là thứ âm nhạc của đám đông!) là bao la, là tiếng vọng của cõi bên kia nên nó cũng bao la như cuộc sống.

Chúng ta không phản đối nghệ thuật dành cho quần chúng số đông. Nhưng chỉ có thế thôi ư?  Hãy tỉnh táo hơn để nhìn sang các nước phát triển quanh ta: Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc thì đã đành, ngay cả Thái Lan, Singapo, Malayxia… Họ cũng chỉ mới đầu tư cho dòng nhạc trí tuệ này trên 20 năm thôi, (Việt Nam ta đến gần 60 năm!) nhưng họ đã tiến nhanh, và đã vượt chúng ta một khoảng cách khá xa. Nhìn vào bộ mặt của một đất nước, thì đó mới là điều để kiêu hãnh, chứ không phải là những dòng nhạc Pop, ca khúc quần chúng, cho dù nó có phát triển nhiều đến đâu đi chăng nữa. Dù nó có trở thành món hàng bán được bao nhiêu tiền đi chăng nữa!

“Nếu bạn cởi mở với điều tầm thường, bạn sẽ khép kín với điều cao cả. Và nếu bạn cởi mở với những điều cao cả thì bạn sẽ tự động khép kín với những điều tầm thường. Cho nên di chuyển về hướng nào đó chính là lựa chọn của bạn” (Osho).

Để kết bài viết này, tôi muốn nhắc lại điển tích nói lên sự gắn bó giữa Người sáng tạo và Người thưởng thức, hai mặt của một vấn đề: Bá Nha đã đập đàn khi Chung Tử Kỳ – kẻ tri âm, người thấu hiểu tiếng đàn của mình chết.

Sống ở đời,  ai cũng muốn có tri âm. Người tài lại càng khao khát hơn, dù chỉ là một kẻ tri âm…

 

 

Advertisements

Nhạc Tặc

“Nhạc tặc” tàn phá nhạc Việt
[02/07/2012 8:52:23]

Chưa lúc nào nghề đạo tặc lại “trúng mùa” như hiện nay. Nào là không tặc, hải tặc, lâm tặc, tin tặc, riêng ở nước ta có những “hàng độc” hơn như đinh tặc, cát tặc, si tặc, sưa tặc. Ngay trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, tặc cũng hoành hành. Xã hội càng lên án, chính quyền càng tìm giải pháp, thì tặc càng nhiều.
Loại tặc nghệ thuật hoạt động mạnh nhất, hiệu quả nhất và “bình yên vô sự” nhất chính là nhạc tặc. Không hiểu trước chúng tôi đã có ai dùng thuật ngữ này chưa, chỉ mong sao nó đừng lọt vào tầm ngắm của các nhà soạn tự điển âm nhạc Việt Nam vì đó là một khái niệm đáng hổ thẹn. Phải nói như vậy chứ không thì chẳng bao lâu nữa thuật ngữ này sẽ được phổ biến nhanh nhờ các phương tiện truyền thông như trong một game show TV về âm nhạc gần đây, chúng tôi đã giật mình khi nghe MC TB đọc một câu hỏi cho tiết mục “Tự điển Âm nhạc”: “5 nhân vật nữ nào đã từng lọt vào Top 5 của các kỳ thi Vietnam Idol?” rồi sau đó là: “5 nhân vật nam nào đã từng lọt vào Top 5 của các kỳ thi Vietnam Idol?”. Những khái niệm như thế có nên tồn tại trong tự điển âm nhạc?

Nhạc tặc là gì?

Nhạc tặc quốc tế

Tương tự như nhiều kiểu “tặc” khác, chúng tôi gọi nhạc tặc là kẻ lấy cắp sáng tác âm nhạc của người khác làm của mình. Hành động lấy cắp như vậy gọi là đạo nhạc. Ai cũng hiểu khái niệm này nhưng vấn đề là “lấy” đến mức độ nào thì trở thành “đạo”? Chúng ta cần tìm hiểu để tránh là một “Don Quixote”, nhìn cối xay nào cũng cho là kẻ thù!

Theo nhà soạn kịch Wilson Mizner người Mỹ (1876 – 1933), “Nếu bạn chép lại từ một tác giả, đó là ăn cắp ý. Nếu bạn sao chép từ hai tác giả, thì lại là nghiên cứu”. Trước đó, John Milton (1608-1674), nhà thơ người Anh cũng đã nói: “Sao chép ý tưởng của một người là ăn cắp. Sao chép của 2 người là nghiên cứu”. Tiểu thuyết gia Ái Nhĩ Lan (Ireland) George Moore (1852-1933) cụ thể hơn: “Lấy cái gì đó từ một người và làm cho nó tệ hơn thì gọi là đánh cắp, đạo ý tưởng”.

Đạo nhạc (music -plagiarism) là sử dụng hay bắt chước gần giống âm nhạc của tác giả khác nhưng lại giới thiệu nó như sản phẩm của mình. Để xác định việc đạo nhạc thường khó hơn xác định đạo văn. Ngày nay đạo nhạc xảy ra trên 2 bình diện – ý nhạc (giai điệu, motif) hoặc mẫu tương tự (sampling, lấy một phần bản thu âm của ca khúc này và dùng lại trong một ca khúc khác). Đó là quan niệm theo truyền thống thế giới chứ không như trường hợp sau đây. Ca khúc “Mưa” (sáng tác của Minh Vương) được chọn trao giải thưởng Bài Hát Việt tháng 7 năm 2008 nhưng sau đó bị nghi ngờ đạo nhạc ca khúc Nhật Aitai do ca sĩ Hàn Quốc nổi tiếng, Choi Dong Wook sáng tác và trình diễn. Sự giống nhau của hai ca khúc này đến 80%. Chủ tịch Hội dồng Nghệ thuật của BHV lúc đó, nhạc sĩ An Thuyên đã cho rằng: “Mặc dù hai ca khúc này có những chỗ giống nhau đáng kể nhưng sự lạm dụng này không vi phạm luật pháp vì hai ca khúc không có 12 nốt nhạc tương tự đi liền nhau theo như những quy định quốc tế”. Chúng tôi chưa tìm thấy ở đâu ra cái gọi là quy định quốc tế về luật 12 nốt này? Chẳng có quy định nào như vậy theo luật pháp quốc tế. Để xác định, chúng ta cần cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố liên quan. Cần phải mời các chuyên gia về âm nhạc học để phân tích về tiết tấu, hòa âm, chuyển động giai điệu, v.v…Tổng số các nốt nhạc bị sao chép là một yếu tố liên quan nhưng không thể là yếu tố quyết định. Đây là vấn đề phán quyết của tòa án. (Mà ở Việt Nam tòa án còn bận nhiều việc khác quan trọng hơn là xử các vụ việc đạo nhạc, đạo văn!).

Thang âm có giới hạn trong một số lượng nốt nhạc nhất định ví dụ thang âm ngũ cung, thang âm 7 bậc diatonique,… Bên cạnh đó, khi sáng tác người ta thường dựa trên một số hình thức và thể loại đã được tiêu chuẩn hóa. Vì vậy hiện tượng đạo nhạc “tình cờ” hay “theo tiềm thức” là điều có thể xảy ra. Không hẳn cứ có một số nốt nhạc nào đó giống nhau thì kết luận đạo nhạc. Shostakovich chắc phải buồn cười khi có người cho rằng ông đã đạo nhạc giai điệu đầu tiên của ca khúc “We wish you a Merry Christmas” cho bản Prelude số 15, giọng Ré giáng trưởng của ông vì sự giống nhau rất rõ nét. Ranh giới giữa đạo nhạc “tình cờ” và đạo nhạc “có chủ đích” có khi rất mơ hồ. Năm 1971, George Harrison, một thành viên của The Beatles đã bị ban The Chiffons (ít nổi tiếnghơn) kiện vì đạo nhạc bài “He’s So Fine” (1963) của nhóm này thành bài “My Sweet Lord” (1970). Vụ án kéo dài gần 10 năm, cuối cùng Harrison đã bị kết án đạo nhạc “theo tiềm thức” và bị phạt đến 587.000 dollars. Trong lịch sử đạo nhạc (nếu có), George Harrison có lẽ chiếm ngôi đầu bảng vì dính dáng đến 5 vụ kiện. Sau đó, một thành viên nổi tiếng khác của Beatles, John Lennon cũng bị nhà xuất bản Big Seven Music Corp. (nơi sản xuất đĩa đơn cho Chuck Berry) kiện vì đã sử dụng một giai điệu lẫn ca từ của của Berry trong bài “You Can’t Catch Me” (1956) để dùng vào bài “Come Together” (1969). Lennon đã thua kiện và phải bồi thường bằng cách nhận lời thu âm 3 ca khúc khác của Big Seven trong album sau đó của ông. Năm 2005, nhạc sĩ sáng tác ca khúc của Bỉ, Salvatore Acquaviva đã thắng kiện ca sĩ Madonna vì tội ăn cắp 4 nhịp mở đầu chủ đề ca khúc “Ma vie fout le camp” của mình để dùng trong bài “Frozen” (bài top hit của Madonna năm 1998). Tòa án đã ra lệnh thu hồi tất cả đĩa CDcó bài Frozen của Madonna đang bán trên thị trường và cấm trình diễn ca khúc này trên các đài truyền hình và phát thanh toàn nước Bỉ.

Nhạc tặc tàn phá nhạc Việt

Vào internet chỉ cần gõ “Danh sách các bài hát nước ngoài bị ca sĩ Việt Nam đạo nhạc”, hoặc “Plagiarist plague in Vietnam” (Bệnh dịch đạo nhạc tại Việt Nam) là chúng ta phải nóng mặt vì có quá nhiều vụ đạo nhạc từ kiểu “hồn nhiên” đến “cướp trắng”. Ăn cắp từ nhạc Hàn và Hoa là nhiều nhất, rồi đến Nhật, Thái, Anh, Mỹ…Nhạc tặc ở Việt Nam “lì đòn” và hoạt động “có thương hiệu” như hải tặc Somalia vậy! Có lẽ người có công nhất trong việc xây dựng thương hiệu “nhạc tặc Việt” khiến giới truyền thông quốc tế phải chú ý đến là Bảo Thy. Chỉ riêng cô đã có đến gần 10 ca khúc đạo nhạc chưa kể nhiều clip ca nhạc khác, vượt qua cả George Harrison, xứng đáng là một nữ tướng khiến “cướp biển Caribbean” cũng phải nể mặt. Có bản lãnh của một “tặc tướng” như vậy nên cô mới dám lên tiếng phản bác nghi án đạo clip ca nhạc mà báo Hàn Quốc mới đưa ra và được báo Tuổi Trẻ ngày 5/6/2012 thông tin. Ngoài ra còn một danh sách có từ năm 2004, liệt kê 70 ca khúc bị nghi đạo nhạc, kèm theo một CD mang tên “101 % copy-cover 2004”. Trong các danh sách này có gần hết những sao nhạc Việt (từ người sáng tác đến ca sĩ, từ sao thật đến sao…xẹt) như: Quốc Bảo, Võ Thiện Thanh, Vĩnh Tâm, Phương Uyên, Mỹ Tâm, Đoan Trang, Hồng Ngọc, Phương Thanh, Hồ Ngọc Hà, Lam Trường, Ngô Thanh Vân, nhóm Mây Trắng, Thanh Thảo, Phạm Thanh Thảo, Tim, Trần Tâm, Trà My, Nguyên Vũ, Quang Hà, Quang Huy, Ưng Hoàng Phúc. v.v…Vậy mà nhạc sĩ Lê Nam, đại diện Cục Nghệ thuật Biểu diễn lúc bấy giờ đã nhận xét “Quả nhiên có nhiều ca khúc Việt Nam giống đến 80-90% giai điệu của bài hát nước ngoài. Tuy nhiên điều này chưa thể kết luận “ai đạo của ai”. Ô hay, một nhận xét “hồn nhiên” đến đáng “ngạc nhiên”. Chả thế mà nghề nhạc tặc vẫn cứ “ăn nên làm ra”. Nói cho công bằng, các vị có trách nhiệm ấy có đưa ra giải pháp tương đối tích cực: “Yêu cầu đài phát thanh, đài truyền hình trên 64 tỉnh thành không dàn dựng, không phát sóng những ca khúc copy. Không có đất để tồn tại, những ca khúc này sẽ dần bị lãng quên, bị chết”. Nhưng thực tế, nhiều sản phẩm “đạo” vẫn được phát sóng “vô tư”, nhiều “tặc” vẫn ngang nhiên tung hoành.Đảo vòng qua một số ca khúc thuộc loại nghi án, chúng tôi tổng kết được một số “thủ pháp đạo nhạc” phổ biến của các nhạc tặc Việt Nam áp dụng từ trước đến nay, theo mức tinh vi tăng dần như sau:

1/. Lập lờ về tên tác giả chính thức: Trong phim truyền hình “Mùi Ngò Gai”, nhạc phim mở đầu là ca khúc Saldaga của Jang So Young với lời Việt của Nguyễn Tuấn Khanh nhưng lại được ghi: “Âm nhạc: Jang So Young, Nguyễn Tuấn Khanh” cứ y như rằng cả hai là đồng tác giả vậy.

2/. Cố tình bỏ tên tác giả gốc đi mặc dù không khó khăn gì để có được thông tin. Lúc này, các nhạc tặc dùng chiêu “Nhạc ngoại quốc”, “Nhạc Nhật”, “Nhạc Hoa”, “Nhạc: sưu tầm”, v.v…Như trường hợp ca khúc “Depend on you” (Ayumi Hamasaki) có thông tin phổ biến khắp trên mạng nhưng khi Mỹ Tâm hát bản lời Việt “Ban Mai Tình Yêu” thì có nơi ghi xuất xứ là: “Sáng tác: Trung Nghĩa”, có nơi ghi “Nhạc Nhật, Lời Việt: Trung Nghĩa”.

3/. Sao chép những ca khúc ít người biết tới, những tác giả ít nổi tiếng. Cách này có vẻ an tòan hơn. Nếu có ai phát hiện thì mọi thứ cũng đã nguội rồi. Tuy nhiên đối với những nhạc tặc dày…mặt hay dày dạn, có “thương hiệu quốc tế” thì họ không cần dùng thủ pháp này. Đó là trường hợp Bảo Thy ra tay “đạo” bài hit nổi tiếng “We belong together” của Mariah Carey để thành “Ngày buồn nhất” của mình.

4/. Đảo ngược cấu trúc: dùng phiên khúc của bản gốc làm điệp khúc của bản “đạo”; có thể áp dụng thêm một chút biến tấu cho phần “đạo” không giống bản gốc một cách lộ liễu.

5/. Cướp cả chì lẫn chài. Đó là trường hợp nhạc tặc Hồ Ngọc Hà đạo nhạc bài “Red Blooded Woman” của Kylie Minogue để thành ca khúc “Thêm một lần vỡ tan” của mình. Ở đó không chỉ giai điệu mà cả phần nhạc beat cũng bị bê nguyên xi vào. Cô này còn cho thấy “kinh nghiệm dày…mặt” đến độ đem trình bày trong chương trình “Âm nhạc của tôi” (11/2008) một bài không phải của mình!

6/. Chiêu cao cấp: Ca khúc Objection (Tango) là một ca khúc Latin đầu tiên được Shakira sáng tác bằng tiếng Anh nên ở nhiều nơi chỉ ghi: “Shakira – Lyrics”. Khi Đoan Trang sử dụng nguyên xi (gồm cả giai điệu lẫn nhạc đệm) bài này với lời Việt của mình thì ghi “Tango – Đoan Trang – Lyrics”. Ai muốn hiểu sao cũng được!

Khi “phi vụ” bị bại lộ, phản ứng chung của các “nhạc tặc “Việt là quy tắc “3 không”: không nghe, không thấy, không trả lời. Ví dụ trường hợp nhà báo Trần Nhật Vy đã từng nêu và dẫn chứng trường hợp ca khúc Ước gì của Võ Thiện Thanh thành công qua giọng ca Mỹ Tâm nhưng thực chất giống đến một cách đáng ngờ so với tiểu phẩm piano Night Prayer của pianist Mỹ, Jim Brickman. Khi anh tìm cách liên lạc bằng phone thì điện thoại của Võ Thiện Thanh luôn tắt hoặc bận. Rồi mọi thứ sẽ phải qua đi. Chẳng có biện pháp nào để chế tài họ. Đó là quy tắc vàng cho sự an tòan. Mà chế tài, xử phạt làm gì? Xét cho cùng, các nhạc tặc Việt đã và đang góp phần nhanh chóng và hiệu quả để xây dựng một thương hiệu Việt trên nhạc trường quốc tế kia mà! Nhạc tặc không tàn phá Nhạc Việt vì có người còn gọi họ là các nghệ sĩ của âm nhạc đương đại Việt Nam. Chỉ có điều đây là nền âm nhạc theo phong cách Somalia!

Nguyễn Bách

Trọc Phú

Nguyễn Quang Lập

Mình về quê, cô em họ nói tối nay nhà hát Thị xã có chương trình ca nhạc của nhạc sĩ Tinh Tuý, có giấy mời đây, anh có đi không. Chẳng biết Tinh Tuý là ai. Hồi này các nhạc sĩ trẻ nổi lên cũng nhiều, sáng tác như điên nghe không kịp, toàn những bài na ná nhau, hết nhại Phú Quang sang nhại Ngọc Đại, ca từ hoặc rỗng toếch hoặc nhẹ tênh, chán ốm. Định bụng không đi. Cô em họ nói nhạc sĩ Tinh Tuý nói ông quen anh đấy, hình như học với anh. Cái tên nghe lạ hoắc, quen thân hồi nào nhỉ?

Ừ thôi thì đi. Tới nơi thấy đông nghịt, vé 180.000 đồng mà đông nghịt. Cô em họ cười rích rích, nói giá vé đề cho oai, thực ra toàn giấy mời. Mình cười, nói ừ, thì mời mà người ta đi cho đông thế này cũng là tốt rồi. Cô em lại cười rích rích, nói phải tổ chức mời, lôi kéo mọi người vào mới được như vậy, ai mời được một người đi thì được thưởng 10 ngàn. Mình ngạc nhiên nói có chuyện đó a? Nó bảo ông Tinh Tuý thiếu gì tiền. Mình trợn mắt hỏi thật a, nó gật gật, nói em mời được 6 chục người, 600 ngàn khoẻ re, ke ke ke.
Hoá ra là thằng Tuỵ học lớp 7 với mình, nó là Phạm Tuỵ, sao giờ nảy nòi đổi tên là Phạm Tinh Tuý không biết. Thằng Tuỵ không dốt nhưng lười, học hết lớp 7 thì bỏ, lêu bêu ba bốn năm trời, chẳng chịu làm việc gì, nhà nó cãi nhau ỏm tỏi vì nó. Nó mê con Thủy lắm, rình con Thuỷ tắm suốt. Một hôm thấy nó di chân trên cát đi một hình vẽ to đùng, mình hỏi vẽ chi rứa? Nó nói bướm con Thuỷ. Vẽ xong, nó ngồi lọt thỏm vào đấy, tay bó gối mắt nhìn đăm chiêu, nói cho tao lấy con Thuỷ thì sai tao ăn bát cứt tao cũng ăn. Mình hỏi cứt nác có ăn không, nó nói ăn.
Hôm con Thuỷ cưới chồng, thằng Tuỵ uống rượu say cứ ép bên tường hồi nhà con Thuỷ, sát ngay phòng ngủ vợ chồng Thuỷ dập liên tục, ở quê gọi là nắt gió. Con Thuỷ đi đâu nó cũng đứng dạng háng chặn lại, chim võng trong quần nói chồng Thuỷ có bằng con cu của tui không mà chê tui hử!
Thấy phiền quá, chú nó xin cho một chân làm hậu đài đoàn văn công tỉnh, đuổi nó đi cho khuất mắt con Thuỷ. Thằng Tuỵ thích lắm, ai hỏi làm đâu, nó cười cười ra cái vẻ khiêm tốn, nói làm ở đoàn văn công, phụ trách hậu đài. Ít ai biết việc của nó là kéo dây, mắc đèn, khuân vác bục bệ, nghe nói phụ trách hậu đài là oách rồi, lương tháng năm đồng ba cọc, bù lại gái gú có dùng, cũng phởn.
Thằng Tuỵ to đen như con gấu, mỗi tối biểu diễn, nó cứ lởn vởn quanh khu hoá trang, các cô nhờ nó khi thì lấy cái này, khi thì lấy cái kia, rồi nhờ cột cái tóc, sửa cái giày.. nó vui vẻ làm hết thảy. Thỉnh thoảng nó lại véo cái, vuốt cái… loanh quanh thế nào nó kiếm được ối cô. Hồi mình ở tỉnh, nó chuyên kể các nàng ế chồng, các em trẻ ngứa nghề, các bà nạ dòng chồng già, mất sức chiến đấu đều vào tay nó cả. Nó kể một hôm ông trưởng đoàn nghi nó tằng tịu với vợ ông, định đuổi đi, chưa kịp mở mồm vợ ông đã cho một vả rụng hai cái răng cửa. Từ đó nó được chiều chuộng nâng đỡ, uy quyền ra phết.
Đến đoàn văn công hỏi gặp anh Tuỵ, thế nào cũng có người vồn vã, nói dạ đây dạ đây, anh chờ cho chút. Rồi hộc tốc đi tìm, tất tả ngược xuôi, y chang thằng Tụy là lãnh đạo.Thằng Tuỵ cười, nói tao dưới một người trên muôn vạn người, khác gì phó đòan, thằng phó đoàn lơ mơ tao cách chức, khe khe khe .
Năm 1985 đoàn văn công vào diễn cho xí nghiệp đông lạnh, ông giám đốc phấn khởi lắm, nói tặng anh em đoàn văn công tỉnh rẻo đất của xí nghiệp làm quà. Đó là rẻo đất thừa, bùn lầy, rác rưởi nằm ngoài khuôn viên xí nghiệp, ông cho ai trong xí nghiệp cũng chẳng lấy, nên cho đoàn văn công. Mọi người ra nhìn rẻo đất chừng vài ngàn mét đất ai cũng ngán ngẩm, bỉu môi không lấy. Thằng Tuỵ nói mọi người không lấy tui lấy, tui làm mấy ao nuôi cá chơi.
Thằng Tuỵ lấy xong bỏ đấy cả chục năm chẳng làm gì, đụng đến ngày Thị xã lên thành phố, qui hoạch thay đổi, giá đất lên ầm ầm, mấy ngàn mét đất của thằng Tuỵ thành tiền tỉ. Nó lại khéo mua đi bán lại đất đai, chỉ vài năm sau nó thành tỉ phú, tiền nhiều như quân Nguyên. Nó mặc nhiên thành ông lớn trong tỉnh, gặp nó ai ai cũng một anh hai anh, tuyệt không ai dám gọi nó bằng thằng. Nó thường nhậu nhẹt đàm đạo với các quan chức trong tỉnh, hễ nó nói câu gì cũng được khen giỏi, có đầu óc, tầm chiến lược gia, nghe ù tai. Bây giờ nó là nhạc sĩ Tinh Tuý, nổi tiếng khắp tỉnh, bài hát thì chẳng ai nhớ nhưng tên nó cứ nổi như cồn.
Mình nghĩ mãi không ra làm sao một lúc nó có thể làm được món nghệ thuật cao sang kia, trong khi một nốt nhạc bẻ đôi cũng không biết. Hồi lớp 3, cô giáo tập bài Giải phóng miền Nam, hát đi hát lại cả trăm lần, ai cũng thuộc, cô giáo gọi nó đứng lên hát. Bài hát như mắc ngang họng, nó cố khạc ra, hát giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết quyết quyết… Mọi người cười, nó lườm đe mọi người, nói cười cu tao.Rồi trương gân búng má cố rặn ra, hát giải phóng miền Nam chúng ta cùng bước bước bước…
Thế mà bây giờ nó đã thành nhạc sĩ Tinh Tuý, thất kinh.
Đêm ca nhạc tưng bừng, thằng Tuỵ khiêm tốn ra cúi chào, vẻ mệt mỏi trước hư danh. Các cô gái chạy ào ra tranh nhau tặng hoa, trong đó cô em họ mình. Cô em họ nói phải tranh nhau tặng hoa thì mới được thưởng, nếu lên chậm, rời rạc thì một xu cũng không có.
Có đến bốn, năm cái máy quay ti vi, ông nào ông nấy mặt mày nghiêm trọng, lật đật ngược xuôi khắp khán phòng. Mình ngạc nhiên thấy mấy ông lớn nghệ thuật trong tỉnh, dù đã già nhưng danh tiếng vang lừng đều có mặt trên sấn khấu, người thì hát bài hát của thằng Tuỵ, người thì phát biểu ca ngợi nó, nói Tinh Tuý một phát hiện mới, Tinh Tuý một tài năng tiềm ẩn vừa được khám phá…oách kinh.
Anh Hào Hoa nói tao nói Tinh Tuý một tài năng, thằng Tuỵ bỏ bì có 5 trăm, ông Xốc Tới nói Tinh Tuý một tài năng lớn, nó bỏ bì cho hai triệu, được rồi lần sau tao nói Tinh Tuý một thiên tài xem nó bỏ bì tao bao nhiêu.
Hết chương trình, mình tìm gặp nó bắt tay, nói chào thiên tài Tinh Tuý. Nó cười rỉ tai, nói thiên cái đầu b., chơi ngông tốn tiền bỏ mẹ, khơ khơ khơ. Một người đàn ông già thâm thấp đi đến, vẻ khóm róm, nói dạ thưa anh mời anh lên xe. Thằng Tuỵ vỗ vai người này, nói anh Khái. chồng cô Thuỷ, chánh văn phòng công ty tôi. Mình à và bắt tay, ông Khái khom người hai tay nắm tay mình, gập cái đầu thiệt lẹ, rồi lón thón chạy về chiếc Mezcerdez đang chờ, mở sẵn cửa. Mình lên xe cùng thằng Tuỵ, ông lại khom người kính cẩn, gập cái đầu thiệt lẹ, nói dạ các anh đi. Mình hỏi thằng Tuỵ đi đâu? Nó bảo qua chỗ này nghe tụi nó nịnh tao chút, rồi hai thằng mình ngồi với nhau.
Đến nhà hàng, cả trăm người đang chờ, đủ mặt cả: văn nghệ sĩ, quan chức trong tỉnh và các ca sĩ phục vụ đêm nhạc, nhiều nhất là các nhà thơ. Thằng Tuỵ bắt tay, nhận hoa, vỗ vai người này, cụng ly người kia, nói cười ha hả. Thằng Tuỵ đi đến đâu ti vi chạy rật rật theo đấy. Ai cũng nói đêm nhạc thành công, bài này hay, bài kia sâu sắc, hiếm có ai đa tài như Tinh Tuý. Nhà thơ Hoài Ân nói may trời có mắt, tỉnh mình có Tinh Tuý, không thì nỏ biết lấy chi mà tự hào. Mấy người nói đúng đúng, giả sử Tinh Tuý không sinh ra ở đây có phải tỉnh mình trơ mép không. Mấy người lại nói đúng đúng, không có Tinh Tuý tụi mình bốc cát mà ăn. Mấy người lại nói
đúng đúng, đừng nói cát, cứt cũng không có mà ăn.
Thằng Tuỵ nhận những lời khen có vẻ như miễn cưỡng, lấy lệ. Nụ cười khiêm tốn lấy lòng người khen, chắc là được rèn dũa nhiều, rất chuẩn. Nó vui vẻ nâng cốc, nói giờ tôi có việc phải đi, không vui được với anh em, rất mong thông cảm. Mọi ngươì cứ nhậu thoải mái, nhậu đến sáng cho vui. Chồng cô Thủy lón thón cầm xấp phông bì đưa từng người một, kèm theo một chai rượu xịn, ông gập lưng đưa phong bì, gập lưng đưa chai rượu, lại gập lưng chào rồi lón thón chạy sang ngươì khác, cứ thế cả trăm người. Nhìn ông cứ thương thương.
Thằng Tuỵ nói anh em mình biết nhau rồi, nói thiệt nhạc của tao đếch đâu. Tao soạn lời, thằng Khái phổ nhạc, nó lấy tiền, tao lấy tên, rứa thôi. Mình nói ông không làm nhạc thì người ta giết ông à? Nó cười khì, nói bây giờ phải nhà nọ nhà kia chút làm ăn mới dễ, tiến sĩ thạc sĩ bây giờ mất giá, thèm vào. Tao vốn ở văn công, chọn cái món nhạc là dễ nhất, tiếng tăm mau nổi, gái gú cũng dễ kiếm, cứ véo von mấy điệu dân ca quen tai là nức nở hết lượt.
Mình nói ông đúng là thiên tài. Nó cười ha hả, nói tao không thiên tài thì thằng nào thiên tài đây. Mình nói thế mà tôi tưởng ông trọc phú. Nó cười khe khe khe, nói trọc phú hết lượt, mình tao à. Mình lại theo thằng Tuỵ lên xe đi ra bờ biển với nó. Mình nói ông mời cả trăm người nhậu đến sáng, tốn cả đống tiền, không tiếc à? Nó bảo lo chi, nhận xong phong bì, chai rượu chúng nó cút cả đó mà.
Xe ra bờ biển, thằng Tụy. vừa xuống xe, bà chủ quán lật đật chạy ra kêu một tiếng ôi anh ngọt lịm, rồi chạy lui mời anh ra đây, mời anh ra đây. Nhìn cái dáng chạy lui của bà, mắt sớn sác, miệng cười gượng, vú sệ rung bần bật, thấy tức cười.
Một cái chòi vắng, nằm nghiêng bờ cát, ở giữa những cây phi lao mắc đèn xanh đỏ mờ ảo dưới trăng rất đẹp. Mình vừa bước vào đã thấy Thuỷ. Cô bận bộ đồ nền nã, sang trọng, chìa bàn tay thon dài đeo hai nhẫn mặt ngọc nói chào Lập, lâu ngày quá hè. Thằng Tuỵ ôm vai Thuỷ, nói đây là vợ thằng Khái nhưng là bồ của tôi. Nó rỉ tai mình, nói tao chơi gái nhiều, chưa thấy con nào hay như con này, lông nó rẽ ngôi, hai xoáy, giống y chang đầu bố vợ tao, khơ khơ khơ .
Hôm sau mình ra Hà Nội, chỉ con Thuỷ đến, nó đưa gói quà thằng Tuỵ cho mình, nói anh Tinh Tuý bận tiếp khách sở không ra được. Mình nói họp gì họp khiếp thế. Thuỷ cười khẩy, nói họp chi mô, thấy anh Tinh Tuý có chút tiền chúng đeo anh suốt ngày, tệ lắm.
Mình nói không ngờ cuối cùng hai bạn lại yêu nhau. Thuỷ nói Lập đừng nghĩ mình lăng nhăng, anh Tinh Tuý tâm hồn như rứa ai mà không yêu.

Nguyễn Văn Tý, ngồi thức với xa xăm

Kỉ niệm 35 Ngày thống nhất, cũng kỉ niệm luôn ngày sinh nhật của mình he he, mình ngồi ở quán đođo với mấy anh chị em TNXP đồng đội năm xưa của Nguyễn Nhật Ánh, uống rượu và hát liên miên bài này sang bài khác. Mấy cô văn công năm xưa nay đã U50 rồi mà giọng hát vẫn trong vắt trẻ trung, mắt lúng la lúng liếng thật dễ thương.

Thích nhất hai bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao và Dư âm của Nguyễn Văn Tý, mình bắt mấy cô hát đi hát lại hoài. Anh Nhượng (Nguyễn Khắc Nhượng, nguyên TTK toà soạn báo Thanh Niên) ngồi cạnh mình, ghé tai mình nói cụ Tý bây giờ sống khổ lắm, nghe biết vậy chứ cũng chẳng hỏi gì thêm.

Mình không quen Nguyễn Văn Tý, duy nhất một lần thấy cụ ở Đồng Hới, hình như năm 1970 thì phải. Lúc đó cụ đã hơn 45 tuổi rồi mà vẫn rất phong độ, đẹp trai cực, miệng rộng môi tươi, cười có lúm đồng tiền sâu hoắm. Hồi này cụ đã nổi tiếng lắm rồi, dân Quảng Bình quên ai thì quên chứ Hoàng Vân và Nguyễn Văn Tý thì không bao giờ quên.

Khi cụ từ hội trường tỉnh uỷ đi ra, bao nhiêu cô nhìn cụ với những cái nhìn ngưỡng mộ thèm khát bốc cháy như muốn ăn tươi nuốt sống cụ, bảo đảm chỉ cần cụ vẫy khẽ cái là có cả chục cô chạy theo liền. Cụ nổi tiếng đào hoa, nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, những bài hát về phụ nữ của cụ đều hay, tất nhiên vô thiên lủng phụ nữ say mê cụ, khỏi phải nói.

Bài Dư âm là kết quả của cuộc tán gái bất thành của Nguyễn Văn Tý, hi hi. Năm 1950 khi cụ là đoàn trưởng đoàn văn công sư đoàn 304, cụ đến tán cô chị 21 tuổi nhưng cô em 16 tuổi lại mê luôn cụ. Cụ cũng chết mê chết mệt cô em, thả luôn cô chị. Gia đình tức lắm, cấm cung cô em, cấm cửa không cụ cho được đến nhà. Cái gì bí tất sẽ phát, bài Dư âm đã rời đời trong một đêm điên cuồng vì yêu của cụ. Chuyện này mình nghe qua radio trong taxi cách đây mấy năm rồi.

Hôm nay sinh nhật mình, Đỗ Trung Quân mang đến cho chai rượu, anh ngồi thừ, nói cụ Tý vừa gọi điện cho tôi, buồn quá. Mình hỏi sao, Quân nói từ ngày bị tai biến liệt nửa người, cụ sống một mình khổ nghèo buồn tủi, tội lắm. Cụ gọi điện cho tôi, nói Quân ơi mai ba mươi tháng tư có chương trình văn nghệ nào vui cho mình đi xem với. Cụ có cả một Hội nhạc sĩ, một tấn bạn bè nhạc sĩ ca sĩ lại đi hỏi mình, nghĩ cái sự đời mà chán.

Té ra Nguyễn Văn Tý ở rất gần chỗ mình, đi bộ chừng chục phút là đến nhà cụ. Mình gõ cửa, từ chỗ cụ nằm ra cửa không đầy bốn mét mà cụ phải đi chừng năm phút, đúng hơn cụ lết chứ không phải đi, toàn thân run lẩy bẩy, lúc nào cũng có cảm tưởng cụ sắp đổ xuống sàn. Duy nhất gương mặt đẹp lão vẫn còn tươi tỉnh còn tất cả đều tàn tạ, cả thân xác lẫn căn hộ ám khói nơi cụ sống.

Cụ chẳng biết mình là ai, có lẽ cụ chẳng đọc một chữ nào của mình, nhắc tên Nguyễn Quang Lập hai ba lần cụ chỉ nhăn răng cười trừ, nhưng mà cụ vui, vui lắm. Cụ lập cà lập cập đòi pha trà uống nước, mình ngăn mãi không được. Cụ nhìn quanh quất chép miệng, nói có lon bia mình uống mất rồi, không có mời Lập. Chỉ chừng ấy thôi mình biết cụ thèm khách đến nhường nào.

Mình hỏi bạn bè có hay đến thăm anh không (giới văn nghệ ai lớn tuổi hơn mình đều gọi bằng anh, không chú bác gì hết), cụ cười nhẹ khẽ lắc đầu, nói chỉ còn một thằng thôi, thằng này tháng nào nó cũng đến thăm, cho hai trăm ngàn, tháng nào nó bận không đến thì tháng sau nó cho bù bốn trăm.

Mình ngước lên bức tường thấy bức ảnh cụ chụp chung với nhạc sĩ đại ca được phóng to treo rất trang trọng. Mình biết nhạc sĩ đại ca là bạn chí thiết của cụ từ hồi chống Pháp, hơn nửa thế kỉ chia ly nay cả hai đã gặp nhau, sống cùng thành phố. Trong khi cụ đã tàn tạ, đếm ngày xuống lỗ thì nhạc sĩ đại ca vẫn rất hoành tráng, tiền nhiều như quân Nguyên.

Mình chỉ tấm ảnh cười cười, nói Đại ca không đến thăm anh à? Cụ cười hiền lành, nói thằng đó thì tính làm gì. Thời kháng Pháp nó ốm nặng, nằm ở nhà mình cả tháng. Mẹ mình có đàn gà 12 con, lần lượt thịt từng con một nấu cháo cho nó ăn, ăn đến con thứ 12 nó ngước lên hỏi mẹ mình một câu lạnh tanh, nói đây là con cuối cùng à. Thế thôi.

Tưởng đến chết nó cũng không thể quên chuyện đó, chẳng ngờ anh em gặp nhau, nhắc đến chuyện cũ nó không hề nhớ gì, ngơ ngác hỏi gà nào nhỉ gà nào nhỉ? Đỗ Trung Quân ngồi cạnh, nói chú có biết Đại ca viết hồi kí nhắc đến chú thế nào không? Cụ lắc đầu nói không, Quân nói Đại ca viết nguyên xi thế này nhé: “ Tôi nhớ ngày đó trong văn công có một anh cán bộ tên là Tý, có làm nhạc..” Chú lừng danh với bài Dư âm trước cả khi gặp Đại ca, đúng không. Bạn bè thân thiết mà nói vậy là không có được.

Cụ cười khì khì, nói nó còn nhắc tên Tý là may lắm rồi. Rồi cụ ngước nhìn ra cửa sổ khẽ thở dài, nói bạn bè mỗi đứa một nết, trách nhau thì trách cả ngày. Mình nhìn cụ thấy thương thương, chợt nhớ chuyện Quân kể năm ngoái chương trình âm nhạc của Đại ca được làm rất hoành tráng, vé bán hai triệu đồng một cặp, không được Đại ca cho vào danh sách khách mời nhưng cụ vẫn đến. Có người nói người ta đã không mời, anh đến làm gì. Cụ nói chương trình âm nhạc của bạn tôi tại sao tôi không đến.

Cụ đứng rúm ró ở cửa nhà hát không biết làm sao có được cái vé, may gặp Đỗ Trung Quân, anh kéo cụ vào, nói cháu cũng không có vé nhưng cháu xin vào được. Quân xin bảo vệ cho vào, bố trí cụ ngồi một ghế trống, nói chú cứ ngồi đây, nếu có ai đến đòi ghế chú cứ dơ tay lên là cháu vọt tới liền. Cụ ngồi thắc thỏm không yên, hễ có ai tới gần là cụ nhỏm dậy lúng ta lúng túng. Trong khi Đại ca bận rộn bắt tay bắt chân quan khách thì cụ ngồi lo bị đuổi ra khỏi ghế.

Một cặp vợ chồng trẻ đến, nói chú ngồi lộn ghế tụi cháu rồi. Mặt cụ tái nhợt, nói vâng vâng rồi ngồi đực mặt không biết làm gì. Đỗ Trung Qúân vọt đến, nói đây là nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, cụ không có vé. Cặp vợ chồng trẻ mắt trố miệng há, nói vậy mời chú ngồi, vợ chồng cháu ra sau đứng cũng được, nước mắt cụ dàn dụa, nói may quá may quá…

Quân nhắc lại chuyện này, nói đó, chú thấy chưa, đời vẫn yêu chú lắm. Cụ mỉm cười lặng lẽ, cất giọng run run hát bài Ru người trăm năm, lời thơ của Trần Mạnh Hảo-Ngủ đi người của anh ơi. Xin nhờ làn gió về nơi em nằm. Anh ngồi thức với xa xăm. Ðến em phải vượt hàng trăm tinh cầu… Cách xa như đất với trời. Ðêm đêm anh lặng ru người trăm năm.

Đang hát cụ chợt dừng lại ngồi yên, nước mắt rân rấn. Mình nói sao thế anh, cụ lặng lẽ nhìn mình, nói tự nhiên nhớ bạn, bạn bè mình nhiều lắm.

Nguyễn quang Lập

Nên bỏ chữ “nhạc sến”

(Thethaovanhoa.vn) – LTS: Từ Mỹ, nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam Jason Gibbs gửi cho TT&VH Cuối tuần bài viết của anh về “nhạc sến” sau khi theo dõi cuộc tranh cãi về dòng nhạc này trên các trang báo và diễn đàn ở Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một cái nhìn “từ bên ngoài” về “nhạc sến”.

1. Tôi được nghe đến tên gọi “nhạc sến” lần đầu tiên năm 1995 lúc xếp hàng trước khi vào thính phòng nghe một chương trình nhạc truyền thống Việt Nam ở San Francisco. Tôi đứng cạnh một người đàn ông đứng tuổi lúc đang đợi chương trình bắt đầu. Điều thú vị cho tôi, ông là một người Hà Nội chính gốc sinh năm 1921 và đã suốt đời kiếm sống bằng nghề chơi nhạc.

Chúng tôi chuyện trò về nhạc Việt một cách rất thân mật và thoải mái. Tôi tỏ ý rằng rất thích các ca khúc bolero của miền Nam. Ông ấy đáp – “À, nhạc sến. Anh có biết chữ “nhạc sến” không?”, tôi trả lời “không”. Ông rằng: “Nhạc ấy cũng gọi là nhạc máy nước”. Ông ấy giải thích: Ngày xưa, trước khi có ống nước vào các nhà, các con sen, con ở phải xếp hàng ở máy nước công cộng để lấy nước mang về nhà. Các cô gái trẻ từ nhà quê ra tập trung chờ đợi lượt của mình thì được nghe như một đàn chim hót líu lo – này là chuyện trêu trọc, ngồi lê mách lẻo. Một nhu cầu nữa là ca hát cho vui, cho giải trí.

Ông ấy kể đến thời gian mà nhạc ấy được gọi nôm na bằng tên “dân ca mam-bô”. Các bài hát của phong trào này nghe rất khác nhạc sáng tác ở miền Bắc trước 1954. Nhạc cải cách vốn là nhạc trữ tình chủ yếu chịu ảnh hưởng của nhạc Pháp, nhạc cổ điển, và nhạc Hawaii. Ông phân biệt nhạc sến với “nhạc sang”, tức là nhạc sang trọng mà hiện nay được gọi là nhạc tiền chiến. Dân ca mam-bô gồm những bài hát của các nhạc sĩ như Hoàng Thi Thơ, Trịnh Hưng, Hoài An, Thu Hồ, Mạnh Phát… Các bài ca ấy viết theo ngũ cung miền Trung và miền Nam với phong cách nhịp nhàng và vui tươi. Loại nhạc này được phát triển thành nhạc bolero rất phổ biến đến bây giờ.

Thị trường nhạc tại miền Nam thời kỳ đó rất đa dạng. Các loại nhạc và tất cả các nghệ sĩ đều được thể hiện trên đài truyền hình. Đặc trưng của các đại nhạc hội của Sài Gòn xưa cũng được kế tiếp bởi các video Paris By Night sau này. Các chương trình phải có cái gì đó cho các lớp khán giả, từ trẻ đến già, từ sang đến… chưa sang. Và vì thế người nghe nhạc hay phân biệt giữa tân và cổ, ta và Tây, sang và không sang.

Chương trình live show ca nhạc Hát trên quê hương 2 mới đây của ca sĩ Quang Lê tại sân khấu Lan Anh đã không còn một chỗ trống. Khán giả của dòng nhạc quê hương dường như lúc nào cũng là những người chung thủy nhất

2. Khi tôi mới đến Việt Nam trong những năm 1990 nhiều người nói đến nhạc vàng, nhưng người ta rất ít (gần như không) nói về nhạc sến. Ở miền Bắc “nhạc vàng” là thuật ngữ để nói về tất cả các loại nhạc được phổ biến ở miền Nam (và ở các thành thị miền Bắc dưới thời chính quyền Pháp và Bảo Đại trước 1954). Sau năm 1975 nhạc vàng vẫn là tên gọi của các loại nhạc bị cấm từ trước, rồi các loại nhạc sản xuất ở hải ngoại. Thực ra nhạc vàng là nhạc thị trường theo góc nhìn của một xã hội bao cấp.
Tôi đề cập đến nhạc vàng vì những người chê loại nhạc bị gọi là nhạc sến cũng phê phán những nét “ủy mị”, “sướt mướt” đã từng đổ lỗi tại nhạc vàng. Cách giải nghĩa âm nhạc bằng những tính từ ấy gốc từ chính sách văn hóa Mao Trạch Đông thành phong trào “bài trừ nhạc màu vàng” của thời Hà Nội mới giải phóng và cũng làm ảnh hưởng chính sách văn hóa Việt Nam đến những năm Đổi mới.

Chữ “sến” thì gần như không có trong quyển từ điển nào. Tôi chỉ biết đến một trường hợp là quyển từ điển Vietnamese-English Student Dictionary (Từ điển Sinh viên Việt – Anh) – Southern Illinois University Press, 1971 của Nguyễn Đình Hòa dịch chữ sến là “kind of wood” (một loại gỗ) và “(slang) young woman” – (tiếng lóng – phụ nữ trẻ). Ông Hòa không định nghĩa thêm, nhưng vì biết đến nguồn của từ này thì tôi nghĩ rằng phải giải thích thêm – sến là chữ lóng nói đến phụ nữ trẻ từ nông thôn (lục tỉnh) ra. Dịch chữ sến cho chính xác hơn thì phải nói đến các từ như wench hay hussy. Hai từ ấy đều mô tả phụ nữ trẻ, gốc nông thôn, với phong cách thô tục ít hay nhiều.

Tóm lại thì chữ sến và nhạc sến bao gồm nhiều ý xấu. Chữ này biểu lộ thái độ miệt thị phụ nữ, người nông thôn, và dân lao động. Còn ngữ từ này là của dân miền Bắc tạo ra cũng chứng tỏ thái độ coi khinh văn hóa Nam. Một điều nữa tôi cũng nghĩ rằng từ nhạc sến chứa ít nhiều định kiến “xướng ca vô loài” của ngày xưa. Nghĩa là nhạc lịch thiệp không dơ tay vào việc chợ búa (là địa vị của phụ nữ), việc buôn bán, việc sinh sống. Như thế là trái với ý nhạc lịch thiệp mà phải được xã hội trợ cấp theo ý các nhà chuyên môn thanh khiết không ăn lương của kinh tế thị trường.

Theo cách nhìn ấy nhạc sến chỉ là đồ rẻ tiền bán ở thị trường. Nếu chữ sến được bỏ thì ý nghĩa đúng của dòng nhạc này sẽ được bộc ra. Cách đây gần 15 năm cố nhạc sĩ Văn Phụng nói cho tôi nghe rằng ông không thích thái độ miệt thị nhạc thịnh hành ở miền Nam và hải ngoại. Ông đề nghị gọi nhạc này bằng “nhạc dân tộc tính phổ thông”. Vài năm sau tôi được nói chuyện với cố danh ca Minh Trang. Bà ấy cũng không chấp nhận thái độ trên và chủ trương gọi nhạc này bằng “nhạc quê hương”.

Tôi nhất trí với bà Minh Trang. Nhạc quê hương bày tỏ một miền quê chung của những người còn sống ở làng quê hay những người vì nhu cầu đời sống phải sống xa quê. Cả lịch sử của Việt Nam trăm năm vừa qua là các chuyến đi của người dân quê vào các thành thị (hay các miền quê của họ bị thành thị hóa). Đời sống của bao thế hệ người nông thôn với những mối quan hệ thân thiết với người cùng xóm và với thiên nhiên bị gián đoạn bởi nhu cầu kiếm sống hay vì chiến tranh. Nhạc này đậm đà các điệu hò, lý miền Nam và điệu vọng cổ. Lời ca của nhạc quê hương nói đến các con sông, những bến đò chiều, những chuyến xe lam, những đường chiều nghiêng nắng, các mùa trái cây chín, mùa hoa nở… Và bao mối tình bị đoạn tuyệt vì các biển đổi trong đời thường của các người Việt Nam.

Bởi vì đa số người Việt còn sống ở nông thôn thì quá trình này sẽ không ngừng nối tiếp. Người đồng quê và từ đồng quê ra cần một luồng âm nhạc riêng bày tỏ nỗi niềm của họ. Trong môi trường mới ở thành thị rất khác với đời sống êm ấm ngày xưa trong trí nhớ, mọi người cần đến một luồng âm nhạc “tri kỷ” thông cảm với hoàn cảnh mình.

Các nhạc sĩ, nhà phê bình hay nhà báo tung ra chữ nhạc sến để tỏ một thái độ không đẹp với dân nghèo Việt Nam. Tất nhiên mỗi người được phép phát biểu ý kiến về chất lượng của tất cả các loại âm nhạc, nhưng họ không nên xúc phạm người nghe nhạc ấy. Tôi đề nghị bỏ chữ nhạc sến trong việc bình luận âm nhạc

Jason Gibbs (Nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Chuyện buồn đau một thủơ

Chuyện buồn đau một thủơ
Nguyễn Quang Lập

Lịch sử sân khấu nước nhà có hai thảm hoạ lớn nhất chưa từng thấy trong thế kỉ 20, đó là hai cái chết tập thể của hai đoàn kịch, một của Đoàn kịch nói Bắc Thái năm 1986, một của đoàn ca kịch Quảng Bình năm 1974.

Hai thảm hoạ vô cùng thương tâm, một vì tai nạn không may, một vì sự chủ tâm của một người, gây xôn xao một thời cách đây ba mươi năm về trước. Thời này báo chí còn hạn chế đưa tin thất thiệt, viết về những thảm hoạ như thế này ít ai dám. Cái chết của Đoàn kịch Bắc Thái còn đưa được một vài mẩu tin, cái chết của đoàn ca kịch Quảng Bình thì đến một mẩu tin cũng không, dân chúng chỉ xì xào bàn tán thôi, ít ai biết thực hư như thế nào.

Bây giờ sau ba mươi năm, khi nỗi đau đã lắng lại mình mới dám kể, cũng là để chia sẻ nỗi buồn với sân khấu nước nhà, ngõ hầu có thể rút được kinh nghiệm để không bao giờ bị mắc phải những sai lầm như thế nữa, đặc biệt là thảm hoạ của Đoàn ca kịch Quảng Bình.

Riêng về đoàn kịch Bắc Thái đến nay đã nhiều người biết, một số báo cũng đã viết lại kỉ niệm buồn đau này cùng với nhân chứng sống, vì thế mình sẽ không nhắc nhiều.

Đấy là một ngày tháng tám năm 1986, đoàn kịch Bắc Thái ăn mừng thành công của vở kịch Đôi dòng sữa mẹ, hình như kịch bản của Lưu Quang Vũ, kéo nhau đi du thuyền trên hồ Núi Cốc. Hồi này hồ Núi Cốc còn hoang sơ, du thuyền trên hồ là việc chưa quen của ngành du lịch, ai thuê thuyền đi thì có dân phục vụ thôi, mọi phương tiện cứu sinh cả trên bờ lẫn trên thuyền đều không có.
Những đồn đại thì nói rằng có một cơn lốc lạ đã nhấn chìm chiếc thuyền chở 29 người trong giây lát, không ai trở tay kịp, chỉ có 6 người sống sót, 19 nghệ sĩ đang độ tuổi xuân xanh và tài năng đang độ chín cùng với bốn em nhỏ đã vĩnh viễn không bao giờ trở về.

Thực ra không có cơn lốc nào cả, thuyền nhỏ người đông, anh em nghệ sĩ thấy cảnh hồ đẹp thì kẻ đứng người ngồi, kẻ chụp ảnh, người đi laị, vào đúng thời điểm thuyền vào cua gấp, ngay lập tức thuyền lật và chìm ngay xuống vực sâu.

Một số người đã bơi thoát ra khỏi nơi tai nạn nhưng không cầm lòng được bởi tiếng kêu của đồng nghiệp, của người thân, của nhưng em bé đang ngập ngụa trong lòng hồ, đành quay trở laị. Chẳng những không cứu được ai, họ đều chịu chết chung với mọi người. Khi vớt xác lên, nhiều người vẫn còn ôm nhau, níu chặt nhau, rất thương tâm.

Khi đó mình đang làm việc tại Sở văn hóa thông tin Bình Trị Thiên, tin này đến ai cũng sững sờ, chua xót. Thảm hoạ kinh hoàng của Đoàn kịch Bắc Thái đã làm mọi người nhớ đến thảm hoạ của Đoàn ca kịch Quảng Bình năm 1974 cách đó 12 năm.

Đây là thảm hoạ do một nghệ sĩ tên Hoan ( họ gì không nhớ nữa) gây ra, một mình anh đã giết chết 14 người trong đoàn vì một chuyện mà nếu thời này thì đã không bao giờ xảy ra.

Anh Hoan là một nghệ sĩ chủ chốt của Đoàn, yêu cô Phượng 18 tuổi, rất xinh đẹp, hát hay diễn giỏi, cũng là một nghệ sĩ chủ chốt của Đoàn. Thời này cán bộ công nhân viên muốn yêu nhau công khai đều phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan. Dù chưa vợ chưa chồng nhưng nếu không báo cáo thì đều bị coi là yêu đương không đứng đắn, thậm chí bị coi là yêu đương bất chính, ngang với tội hủ hoá, là tội rất nặng.

Anh Hoan đã có vợ, có con lại yêu một cô gái trẻ đã là một tội. Gia đình cô Phượng phản đối quyết liệt và đề nghị Đoàn can thiệp, nhiều lần Đoàn đã phê bình kiểm điểm nhưng cả anh Hoan lẫn cô Phượng đều không nghe, vẫn lén lút yêu nhau.

Đến khi cô Phượng có thai thì câu chuyện trở nên trầm trọng. Giá như thời này thì chẳng có sao. Nếu anh Hoan bỏ vợ và lấy cô Phượng mà vợ anh Hoan cũng thuận tình thì chẳng ai lấy đó làm vì, âu cũng là phúc phận ở đời.

Nhưng thời này thì khác, bất tuân yêu cầu của tổ chức là một tội, đã có vợ lại đi hủ hoá là một tội nữa. Khi gia đình cô Phượng và Đoàn yêu cầu anh và cô Phượng chia tay thì cả hai đều bỏ ngoài tai thì tội ấy không thể tha thứ được. Đoàn ca kịch Quảng Bình họp kiểm điểm liên miên, mẹ cô Phượng bám đoàn suốt ngày đêm “ Yêu cầu anh Hoan tha cho con gái tôi”.

Thực ra cái sự kiểm điểm các vụ yêu đương linh tinh, hủ hoá tầm bậy thường vẫn diễn ra không gay gắt gì, chẳng qua việc phải làm, trên bảo kiểm điểm thì kiểm điểm thôi, chỉ đôi ba người tính cự đoan thích ăn to nói lớn cho oách, chứ thực lòng chẳng ai muốn. Người ta vừa kiểm điểm vừa khuyên giải cốt để cho yên chuyện, trong đoàn tuyệt không ai ghét bỏ hai người.

Nhưng anh Hoan không nghĩ vậy, âu cũng là tâm trạng của một thời, những người bị tổ chức kiểm điểm, bị kỉ luật đều cho đời mình thế là tàn. Như bây giờ nếu không sống trong cơ quan này thì đi tìm cơ quan khác, nhiều người chuyển cơ quan năm bảy lần, chín mươi lần cũng là chuyện bình thường. Xưa thì không, một khi anh bị kỉ luật đều bị coi là xấu xa, bị đuổi việc càng xấu xa, đừng có hòng cơ quan nào nhận. Cái thời mà không ai nghĩ đến chuyện bỏ việc công ra làm riêng, bị đuổi việc được coi như cùng đường sống.

Cuộc họp đêm đó kéo dài đến 11 h đêm, anh Hoan bỏ ra ngoài, mọi người cứ tưởng anh đi vệ sinh, cứ yên chí ngồi chờ. Anh Hoan quay trở lại, ném ngay vào giữa cuộc họp một quả mình tự tạo đựng trong lon sữa bò. Mình nổ. Hai người chết ngay tại chỗ. Anh Hoan cầm khẩu AK đánh cắp được của bảo vệ Đoàn đi tìm từng người một, có người anh tha, có người anh bắn chết, bình thản như không.
Chị Tùng vợ nhà thơ Văn Lợi kể: khi đó chị nghỉ đẻ không tham gia kiểm điểm. Nửa đêm nghe mình nổ chị chạy ra thấy anh Hoan đang ôm súng lăm lăm đi đi lại lại tìm kiếm sục sạo, chị kêu lên răng mi bắn chết anh em Hoan ơi, anh nói kệ tui, chị chạy đi, chạy lối tê, đừng chạy lối ni, lạc đạn chết đó.

Đoàn ca kịch sơ tán, đóng ở đồi Giao Tế thôn Đức Mỹ, dân quân nghe tiếng súng chạy vào bao vây khu chung cư, chưa ai hiểu chuyện gì, đêm lại tối đen, thỉnh thoảng nghe một tiếng hét lên cùng với tiếng nổ đanh gọn. Đến 4 giờ sáng bộ đội công an từ Đồng Hới kéo lên, ập vào thì cả đoàn ca kịch tan nát, anh Hoan chị Phượng nằm chết kề lưng nhau, mẹ cô Phượng nằm gần đấy, bà cũng đã chết.

Anh Hoan đã chết cùng cô Phượng sau khi đã bắn chết cả thảy 14 anh em nghệ sĩ. Người chết hết chuyện, cho đến nay cũng không ai còn kết tội ai, nhớ đến chuyện này ai cũng cất một tiếng thở dài, âu cũng là lỗi của một thời, cái thời mà cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc mỗi cá nhân luôn bị gia đình và tổ chức áp đặt nặng nề.

Đoàn kịch Bắc Thái sau thảm hoạ một tháng đã gượng lại được bằng chính vở diễn Đôi dòng sữa mẹ, cả người diễn lẫn người xem đều đầm đià nước mất. Đoàn ca kịch Quảng Bình thì không, họ mất tinh thần đến nỗi cả năm sau đó vẫn không dựng nổi được một vở nào cho đến khi nhập tỉnh năm 1976, sát nhập vào đoàn ca kịch Bình Trị Thiên. Không một ai muốn nhắc lại, hễ ai nhắc thì người khác gạt đi, nói thôi, nhắc làm cái chi nữa mà nhắc. Tất cả dường như muốn quên đi một kỷ niệm đau lòng cùng với cái thời khốn khổ ấy.

Nguyễn Quang Lập

Tranh nghệ thuật trên thị trường vàng thau lẫn lộn

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
Trong vài năm trở lại đây, thị trường tranh Việt Nam hay nói khác đi là chuyện mua bán, sưu tập và kinh doanh các bức tranh nghệ thuật đã bị đánh tráo nặng nề bởi kĩ thuật chép tranh và tính cẩu thả, thiếu tôn trọng tác quyền đã dẫn đến chỗ bế tắc. Đặc biệt, các gallery ở thành phố cổ Hội An đang ngày càng trở thành nỗi sợ hãi của người thưởng ngoạn và nó cũng là nơi đẩy những họa sĩ chân chính vào ngõ cụt.

Gallery tranh nghệ thuật thành Chợ lưu niệm

Một họa sĩ trẻ, chuyên vẽ tranh trên chất liệu sơn mài, chia sẻ với chúng tôi:

“Lâu nay tôi bỏ Hội An rồi, sợ Hội An rồi, có bán buôn gì đâu. Lộn xộn quá, nên tranh chán lắm, mình mang tiếng. Lâu nay ai hỏi gallery mày ở đâu, không dám trả lời ở Hội An, kinh quá! Thì nó chép tranh tùm lum giờ mình mở công ty cũng không dám mở ở đó, tranh sáo gì mà chán lắm, do uy tín nó không có, đâu có khách được đâu. Các cửa hàng tranh trở thành chợ lưu niệm rồi. Cho nên nếu mỹ thuật đặt ở chợ lưu niệm thì chết, mỹ thuật mà thành hàng lưu niệm thì không được. Nên mình tránh ở Hội An rồi, bỏ luôn rồi”

Ở độ tuổi hai mươi, với niềm tin sẽ tìm ra những góc khuất, những mảng không gian văn hóa bị chôn vùi vào dĩ vãng của thành phố cổ Hội An, người họa sĩ trẻ này rời bỏ Hà Nội, khăn gói vào Hội An, cặm cụi sáng tác và vay tiền của gia đình gần một tỉ đồng để mở một gallery thật ấn tượng, tạo lối đi riêng trên con đường nghệ thuật của mình.

Nhưng chẳng bao lâu sau đó, anh hoàn toàn thất vọng vì không những tìm không ra hướng đi nghệ thuật mà còn vướng phải nạn chép tranh, ăn cắp tác quyền, ăn cắp ý tưởng của các quầy bán tranh lưu niệm ở đây. Tất cả những tác phẩm tâm huyết mà anh đã bỏ ra hàng tháng trời để chiêm nghiệm sắc độ của tạo hóa rồi chuyển hóa thành tác phẩm, mỗi góc khuất, điểm nhấn trong tranh của anh hàm chứa tâm trạng và thời gian đã bị chép bán một cách rẻ rúng, vô tội vạ, với giá thành của hàng lưu niệm từ vài đô la đến vài chục đô la.

Cuối cùng, họa sĩ trẻ này phải ngậm ngùi khăn gói trở về Hà Nội để vay thêm tiền vào trả cho chủ mặt bằng. Và sau ba lần chuyển đổi địa điểm với số tiền thuê mặt bằng lên trên 500 triệu đồng, họa sĩ trẻ này phải bỏ Hội An mà chạy ra một thành phố khác mở công ty tư vấn thiết kế nội thất với hy vọng gỡ được số vốn đã đầu tư và mất đi vì tranh nghệ thuật của mình.

Anh chua chát nói thêm với chúng tôi về tình trạng chép tranh vô tội vạ ở Hội An:

“Ở Hội An thì nói vàng cũng chẳng biết ai là vàng, chỉ toàn thau với nhôm. Nói chung tranh ở đây toàn là tranh của bọn chép tranh ở Huế nó vào nó làm. Bất cứ tranh của ai, của cả nước này cứ nỗi lên, miễn là tranh decor bán được là nó chép. Nó bán gì đâu cứ 50 dolla, 70 dolla một bức tranh to đùng một mét vuông, nó ghê gớm lắm.

Ví dụ tranh của mình có xuất hiện ra trên mạng là bị download về chép liền. Quá kinh! Không tin có thể về đường Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thái Học ấy, có mấy gallery nhỏ nhỏ, mấy gallery to thì toàn là đồ lưu niệm, không thể là gallery được. Thật ra thì mình cũng không muốn có ý kiến gì nhiều tại vì Hội An bây giờ như vậy thì bán tranh tụi mình làm thương hiệu không được!”

Một chủ gallery tranh nghệ thuật khác ở Hội An, yêu cầu giấu tên, cho chúng tôi biết thêm là anh cảm thấy quá mệt mỏi với loại hình nghệ thuật, vì nó chỉ mang lại cho anh sự thua lỗ và khủng hoảng kinh tế. Là một họa sĩ có trường lớp hẳn hoi, nhưng cuối cùng, anh quyết định chép lại chính những bức tranh của anh để bán với giá vài trăm ngàn đồng để sống qua ngày. Mặc dù rất khổ tâm khi chính mình phải chép lại tranh của mình để bán với giá rẻ bèo và hơn nữa, làm như thế cũng đồng nghĩa với việc người nghệ sĩ tự hạ thấp chuẩn giá trị của mình. Nhưng anh nói rằng nếu anh không tự chép tranh của anh thì người khác cũng sẽ chép, mà họ chép còn tệ hơn chính anh chép và bán với giá rẻ bèo hơn. Thôi thì anh tự hạ bậc của mình trước khi người khác hạ bậc của anh, dù sao như vậy cũng thấy dễ chịu hơn.

Điều đó cũng cho thấy không riêng gì ở Hội An mà phần lớn nhiều họa sĩ mới vào nghề, chưa tìm được chỗ đứng trong làng mỹ thuật đều chấp nhận làm một anh thợ chép tranh để tồn tại qua ngày. Và theo như một sinh viên mới tốt nghiệp đại học mỹ thuật Huế chia sẻ thì hiện tại, toàn bộ sinh viên mỹ thuật cùng khóa với anh ở Huế và ở Sài Gòn đều chấp nhận làm các công việc như chép tranh, thiết kế trang trí nội thất hoặc thiết kế mẫu thời trang… Thậm chí, có người còn cam tâm chịu làm một người chuyên chép các chữ ký và giả các chữ ký ở các công ty, đây là một công việc trái với qui định pháp luật hiện hành.

Bất minh trong quản lý nghệ thuật ở Việt Nam

Một nhà sưu tập tranh có thâm niên trên 30 năm, chia sẻ với chúng tôi rằng sở dĩ có những chuyện hết sức tồi tệ như vậy trong làng mỹ thuật Việt Nam là do hai nguyên do: Sự lạc hậu trong vấn đề đào tạo mỹ thuật ở Việt Nam và; Tính bất minh trong quản lý nghệ thuật ở Việt Nam.

Cũng theo nhà sưu tập này nhận định thì trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam cũng đã có lắm vấn đề rối rắm trong chuyện chép tranh, thứ nhất là tác phẩm chép vẫn giữ đúng kích cỡ của tác phẩm gốc, điều này hoàn toàn trái với thông lệ nhà nghề trong kĩ thuật chép tranh, hoặc là người chép phải cho khổ tranh nhỏ hơn bức tranh gốc hoặc là lớn hơn.

Nhưng các thợ chép tranh đã cố tính lờ đi điểm này trong lúc chép. Điều này dẫn đến tình trạng vàng thau lẫn lộn, một thời gian ngắn sau đó, người thưởng ngoạn không tài nào phân biệt được giữa tranh thật và tranh chép.

Thậm chí, có nhiều họa sĩ, danh họa Việt Nam chấp nhận để sinh viên vẽ chép theo phác họa của mình rồi ký tên lên tác phẩm. Chính vì kiểu làm việc không có trách nhiệm của họa sĩ đã dẫn đến tình trạng tranh Việt Nam có mức giá rất thấp trên thị trường tranh khu vực. Không phải vì tranh của các danh họa Việt Nam kém chất lượng nghệ thuật mà vì tranh của các danh họa Việt Nam bị xếp vào diện bất minh, khó nhận diện nên trở thành rẻ rúng, không có giá trị. Sở dĩ có hiện tượng này là vì ngay trong giáo dục, đào tạo, các trường mỹ thuật không có một chương trình riêng, hẳn hoi về luật bản quyền, tác quyền và thông lệ chép tranh.

Với môi trường giáo dục bị khiếm khuyết như vậy cộng với cơ chế lỏng lẽo, các cơ quan quản lý văn hóa ở Việt Nam, thậm chí các chuyên viên phòng văn hóa, sở văn hóa vẫn có người chưa phân biệt thế nào là một phòng tranh chợ và thế nào là một gallery tranh nghệ thuật. Và nếu có chăng những chuyên viên văn hóa phân biệt được hai loại hình này thì kiểu quản lý chung chung, cào bằng và không có văn bản pháp qui nào qui định về cơ chế hoạt động, tiêu chuẩn của hai loại hình này cũng làm cho các chuyên viên có hiểu biết phải bó tay trước thực trạng lộn xộn này.
Và, không riêng gì thành phố Hội An rơi vào tình trạng lộn xộn thị trường tranh, ở các thành phố khác như Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ đều mắc phải trường hợp tương tự.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Để có nền phê bình âm nhạc lành mạnh

(Thethaovanhoa.vn) – Những giá trị ảo – thật lẫn lộn, nghệ thuật nửa vời… làm âm nhạc trì trệ, một trong những nguyên nhân của chúng là bởi thiếu vắng những tiếng nói phê bình chân chính. Làm thế nào để khai thông ách tắc này?

TT&VH có cuộc trao đổi với Phó GS – TS – nhạc sĩ Thế Bảo, nguyên Trưởng ban Lý luận phê bình Hội Nhạc sĩ Việt Nam về vấn đề làm thế nào để có nền phê bình âm nhạc lành mạnh nhằm góp phần tích cực vào sự phát triển của âm nhạc.

Chúng ta còn nặng “Dĩ hòa vi quý”

* Ông có nhận xét thế nào về tình hình phê bình âm nhạc trong thời gian qua và hiện nay?

– Tình hình chung trên báo chí hiện nay là chúng ta chưa có được một thói quen phê bình, tranh luận mà đa số là tường thuật, giới thiệu cộng một chút nhận xét (không những âm nhạc mà các môn nghệ thuật khác cũng thế). Phê bình gồm cả những nhận định khen và chê, nhưng hiện nay, chúng ta chủ yếu là khen, mà có khi khen cũng không đúng, sinh ra “tâng bốc”.

Trong thế kỷ 20, ở thập niên 1930 có cuộc tranh luận về “nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” giữa Hoài Thanh và Hải Triều. Thập niên 1960 có cuộc tranh luận về âm nhạc dân tộc giữa Nguyễn Xuân Khoát và Nguyễn Đình Tấn. Hai cuộc tranh luận khá sôi nổi nhưng cũng là quá ít ỏi. Phê bình chưa trở thành một thói quen, chưa tạo được một không khí quyết liệt và thường xuyên như một hoạt động bình thường trong đời sống nghệ thuật. Phải chăng do xu hướng “dĩ hòa vi quý” lấn át?

TS Thế Bảo (ảnh: Nguyễn Đình Toán)
* Còn lực lượng phê bình âm nhạc của chúng ta, họ đi đâu hết rồi?

– Nói về lực lượng phê bình âm nhạc, chúng ta cũng có nhiều, nhưng họ chưa hoạt động thường xuyên và quan trọng là họ không có “đất” để hoạt động. Hàng chục, thậm chí hàng trăm tờ báo hiện nay nhưng không có báo nào có một trang phê bình nghệ thuật, chứ đừng nói riêng lĩnh vực âm nhạc. Các tạp chí chuyên ngành thỉnh thoảng có bài phê bình, nhưng nó lại không có đời sống thật sự trong xã hội để tác động đến đông đảo mọi người.

Mặt khác, ngày nay lĩnh vực âm nhạc chia làm nhiều “phân khúc” với nhiều loại hình khác nhau, mỗi người cũng chỉ chuyên trách một hoặc vài lĩnh vực. Nhưng những người có khả năng phê bình âm nhạc thì không hoạt động báo chí thường xuyên, những người hoạt động báo chí lại không chuyên về phê bình. Dành “đất” cho họ và huy động lực lượng này tham gia vào công việc phê bình có lẽ là điều chúng ta chưa làm được.

Cần những ngọn roi quất vào mông ngựa

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

(Trích Nghe tiếng giã gạo – thơ Bác Hồ)

* Khó khăn là thế, nhưng thưa ông, công việc phê bình có tác động như thế nào đối với đời sống âm nhạc?
– Không những lĩnh vực âm nhạc mà các lĩnh vực nghệ thuật khác cũng thế. Các nhà lý luận phê bình Nga đại ý nói rằng: công tác phê bình được ví như ngọn roi quất vào mông ngựa, nó sẽ làm cho con ngựa “lồng lên” chạy nhanh hơn và chạy đúng đường. Giới phê bình âm nhạc nếu làm tròn chức năng của mình, họ sẽ là người canh giữ ngôi đền nghệ thuật, để lúc nào nó cũng “lung linh”.

* Phê bình và tiếp nhận phê bình chưa thành nếp ở Việt Nam chúng ta, theo ông thì ách tắc này bao giờ mới được khai thông?

– Có lẽ trước hết cần đả thông tư tưởng, người phương Tây thấy hay, dở họ nói ngay, không rào đón như Việt Nam. Cũng có khi họ nói không đúng và không đúng thì trao đổi, tranh luận để sáng tỏ vấn đề. Cái cốt lõi trong phê bình là sự chân thành, cầu tiến, người phương Tây nói chung thẳng thắn, không để bụng và không “thù” nhau vì phê bình.

Người phê bình cũng như bác sĩ, cắt những ung nhọt để cơ thể bệnh nhân khỏe mạnh, cũng có khi họ cắt nhầm, nhưng đa số là họ cứu được bệnh nhân và với cái tâm trong sáng. Nếu người phê bình và người được phê bình hiểu được tinh thần như thế chúng ta mới có một văn hóa phê bình thật sự và nghệ thuật mới tiến bộ.

* Ngoài ra chúng ta cần những yếu tố nào nữa để có một nền phê bình âm nhạc mạnh, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của đời sống âm nhạc?

– Như trên đã nói, chúng ta cần có một không khí phê bình dân chủ, biết lắng nghe nhau và tranh luận quyết liệt; cần có đất để người phê bình hoạt động; cần có người dám phê bình như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9; cần đội ngũ phê bình có trình độ và đông đảo để người phê bình không cảm thấy cô độc và công tác phê bình phải được tiến hành thường xuyên nó mới góp phần tích cực vào sự phát triển của âm nhạc.

Hỡi các nhà phê bình, hãy tiến lên!

TS Thế Bảo cho rằng, một người hiền lành và đã luống tuổi như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 buộc phải nói lên những sự thật, đã cho thấy tình hình quá mức chịu đựng – “tức nước vỡ bờ”. Cũng qua sự kiện này để thấy rằng, công luận rất ủng hộ những tiếng nói phê bình thẳng thắn, vô tư vì sự tốt đẹp của làng nhạc. Thực tiễn cũng đã lên án văn hóa kém trong tiếp nhận phê bình.

Còn chần chờ gì nữa, những người có tâm huyết với âm nhạc hãy vào cuộc để góp tiếng nói của mình nhằm tôn vinh những giá trị âm nhạc đích thực.

Hỡi các nhà phê bình, hãy tiến lên!

Hữu Trịnh (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa

XEM CHƯƠNG TRÌNH THÚY NGA 30 NĂM: SỰ LỰA CHỌN “PHI CHÍNH TRỊ-PHI VĂN HÓA” ĐỂ VÀO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM ĐÃ QUÁ RÕ

Vào ngày Thứ Bảy ngày 6 tháng Bảy, tôi đến Las Vegas để lần đầu tiên đi xem live chương trình ca nhạc Thúy Nga kỷ niệm 30 năm hoạt động. Có thể nói Asia và Thúy Nga là hai chương trình ca nhạc gắn bó với đời sống văn hóa của người Việt hải ngoại nhiều nhất. Ban Giám Đốc Thuý Nga cũng đã nhiều lần khẳng định mục đích duy trì văn hóa Việt Nam tại hải ngoại của mình. Tôi đã rất hào hứng khi bước vào nhà hát của casino Planet Hollywood, chờ đợi một show ca nhạc “vĩ đại nhất từ trước đến nay của Thúy Nga Paris By Night” như lời quảng cáo.

Vậy mà… Tôi đã bỏ về giữa chừng chỉ sau khi chương trình Thúy Nga 30 năm kéo dài hơn một nữa! Sau màn kịch hài, tôi quyết định ra khỏi rạp mà không hề luyến tiếc… Tôi cảm thấy hụt hẫng…

Có lẽ “sự vĩ đại” của chương trình như đã quảng cáo nằm ở phần kỹ thuật sân khấu, một trong những điểm mạnh của các show Thúy Nga nhiều năm gần đây. Sân khấu hoành tráng, rực rỡ muôn màu, các nghệ sĩ bay lượn trên không… Những ai thích chỉ đi “xem” ca nhạc mà không để ý đến nội dung sẽ bị hớp hồn ngay với chương trình này.

Nhưng ngoài sân khấu ra, chương trình ca nhạc đặc biệt kỷ niệm sinh nhật 30 năm của Thúy Nga Paris cống hiến gì cho khán giả? Vẫn MC Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Vẫn những ca sĩ, ngôi sao kỳ cựu của Thúy Nga Paris. Cho đến lúc tôi bước ra khỏi rạp, tôi không hề thấy có một nội dung nào của chương trình ca nhạc này là đặc biệt để dành riêng cho sinh nhật Thúy Nga Paris 30 tuổi. Những bài nhạc tình dễ dãi, vô thưởng vô phạt, cũng giống na ná như những chương trình Thúy Nga trước. Không có nội dung nào về quê hương, dân tộc. Không có nội dung nào về những chặng đường lưu vong của người Việt, vốn là chỗ dựa về cả tinh thần và tài chính cho trung tâm Thúy Nga kể từ những ngày đầu thành lập cho đến nay. Có một tiết mục được gọi là “duy trì văn hóa dân tộc”- hai bài Một Thoáng Tây Hồ-Chiều Phủ Tây Hồ- lại chỉ được MC giải thích về tục mê tín lên đồng của người Việt!

Có cái gì đó không ổn về mặt nội dung! Tại sao Thúy Nga Paris lại dàn dựng một chương trình nghèo nàn về nội dung đến thế để kỷ niệm cột mốc 30 năm rất đáng tự hào của mình?

Những ai thường về Việt Nam , hay ở Việt Nam mới sang Mỹ có thể sẽ nhận ra câu trả lời. Nội dung chương trình ca nhạc Thúy Nga 30 năm này rất giống với các show ca nhạc đang được trình diễn ở Sài Gòn, Hà Nội ngày nay, trong các nhà hàng, phòng trà, sân khấu ca nhạc trong nước. Một thứ âm nhạc thiếu cá tính, chạy theo thị hiếu dễ dãi của người nghe. Và đặc biệt hơn cả, đó là những bài nhạc có nội dung phi chính trị, không có tính xã hội, thời sự, né tránh các nội dung vốn “nhạy cảm” trong nước hiện nay như lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước, sự trăn trở về quê hương, tương lai tuổi trẻ… Đó là nội dung của một nền văn hóa bị kiểm duyệt gắt gao, chỉ được hát những gì mà nhà nước Việt Nam cho hát. Vậy mà… một chương trình ca nhạc hải ngoại lại rập khuôn theo chuẩn mực đó!

Nhận xét về khía cạnh thương mại của show ca nhạc này, người đi xem cũng có thể sẽ nhận ra câu trả lời. Một trong ba nhà tài trợ lớn có tên Lụa Thái Tuấn, một nhà sản xuất trong nước Việt Nam . Một trong những nhà tài trợ $1,000 trong mục “đố vui có thưởng” là Nguyễn Kim, công ty chuyên bán hàng kim khí điện máy ở Việt Nam , và thị trường chỉ nằm ở Việt Nam mà không có ở hải ngoại. Mục đích của Nguyễn Kim quảng cáo là chỉ nhắm vào khách hàng trong nước, mà tại sao lại quảng cáo trên Thúy Nga Paris?

Hỏi tức là đã trả lời rồi: một ngày không xa, Thúy Nga Paris sẽ là công ty hải ngoại đầu tiên được quyền chính thức phát hành điã ca nhạc của mình tại Việt Nam , tổ chức show diễn tại Việt Nam . Mục tiêu thương mại trong tương lai của Thúy Nga đã quá rõ: thị trường trong nước Việt Nam . Mà muốn làm văn hóa tại Việt Nam , ai ai cũng biết phải chịu sự kiểm soát của chính quyề. Làm sao Thúy Nga có được sự ưu đãi của nhà nước Việt Nam , dọn đường để họ vào thị trường trong nước? Chắc chắn không phải là tình cờ, mà một nội dung “có kiểm duyệt, phù hợp chính sách văn hóa của nhà nước Việt Nam” của chương trình Thúy Nga 30 năm lại đi kèm với một chính sách thương mại cũng hướng về Việt Nam” rõ ràng như thế! Đã có những thỏa thuận nào giữa trung tâm Thúy Nga và các tập đoàn tư sản đỏ trong nước đang nắm ngành kinh doanh văn hóa béo bở?

Trung Tâm Thúy Nga là một công ty thương mại, cho nên lợi nhuận hẳn là mục tiêu quan trọng nhất. Nhưng cũng đã có thời kỳ Thúy Nga có được những chương trình ca nhạc mang tính chất văn hóa cao, trở thành một món ăn tinh thần cho cả người Việt hải ngoại lẫn trong nước. Tôi nhớ thời mình còn ở Việt Nam, phải nghe hằng ngày nền âm nhạc “có kiểm duyệt”, thỉnh thoảng được xem những băng đĩa “chui” của chương trình Thúy Nga, Asia… thật là thú vị, hể hả! Giờ đây, có thể thị trường người Việt hải ngoại không còn đủ hấp dẫn nữa. Việc trung tâm Thúy Nga “đạt những thỏa thuận”, hy sinh tính văn hóa để “đi tiên phong về thị trường trong nước” là sự lựa chọn của họ. Không ai có thể cấm cản trong thế giới tự do này. Chỉ có điều, Trung Tâm Thúy Nga không nên tiếp tục tự gắn cho mình cái nhãn hiệu “duy trì văn hóa Việt tại hải ngoại” nữa.

Cũng là một sự lựa chọn rất rõ ràng, nhưng theo chiều hướng ngược lại là trung tâm Asia . Ngay từ những ngày đầu, lập trường của trung tâm Asia rất rõ: không thỏa hiệp với chính quyền CSVN. Mặc dù không thiếu những chương trình nhạc tình, giải trí thuần túy, Asia thường xuyên có những chương trình nội dung gắn liền với thời sự nóng bỏng của cộng đồng người Việt hải ngoại, của người dân trong nước Việt Nam. , một phần không thể thiếu của cộng đồng người Việt hải ngoại. Asia trân trọng nền âm nhạc của miền Nam trước 1975, một gia sản văn hóa vô giá của người Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Dù đã sau hơn 30 năm, nền âm nhạc tù túng trong nước vẫn không thể theo kịp nền âm nhạc tự do này. Asia nuôi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Và quan trọng hơn hết, Asia đứng về phía những người Việt Nam trong nước vẫn còn mơ ước, đấu tranh cho một đất nước Việt Nam thật sự độc lập, thật sự tự do, thật sự hạnh phúc. “…Hãy biết yêu quê hương Việt Nam , hãy biết đau nỗi đau người dân…”

Hơn 30 năm xa xứ, người Việt hải ngoại vẫn luôn là chỗ dựa về cả vật chất lẫn tinh thần cho người dân trong nước. Nhà nước Việt Nam đã nhờ vào hằng tỉ đô la của Việt Kiều gởi về hàng năm để vực dậy nền kinh tế ngu dốt, tràn ngập tham nhũng của họ. Nếu không có sự đấu tranh kiên trì của cộng đồng người Việt hải ngoại, không chắc người dân Việt Nam đã có một bầu không khí chính trị dễ thở hơn như hiện nay. Trung Tâm Asia vẫn kiên trì với mục tiêu dùng văn nghệ hỗ trợ cho sự đấu tranh của người Việt trong và ngoài nước, để hy vọng có được một đất nước Việt Nam tươi đẹp hơn trong tương lai.

Những người làm văn hóa, kinh doanh nghệ thuật đã có sự lựa chọn riêng của họ. Những người hưởng thụ văn nghệ như chúng ta cũng nên có lập trường riêng của mình. Ở một xứ sở tự do như Hoa Kỳ, việc khán thính giả phải trả tiền để xem một chương trình ca nhạc có kiểm duyệt, được định hướng bởi một nhà nước đã đẩy chúng ta ra khỏi quê hương Việt Nam , thì xem ra cũng đáng tiếc!

Buồn thay, vì đồng tiền mà Thúy Nga đã bôi nhọ mình thành một loại âm nhạc phi văn hóa .

(Mautam.net)

Thôi từ nay đừng gọi họ là Diva, là Vedette nữa nhé

An Thanh Lương

Cám ơn nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 rất nhiều khi ông bóc mẽ thẳng thắn những ngôn từ hoa mĩ mà bọn trẻ ( hay còn gọi là fan)tung hô một số ca sĩ thời buổi thị trường

Sau bài trả lời phỏng vấn của ông, tôi đã đọc rất nhiều lời comment hoan nghênh ý kiến chính xác tuyệt đối của ông . Có rất ít ý kiến phản bác trừ “bức tâm thư” hỗn hào của Đàm Vĩnh Hưng người rất giàu tiền bạc nhưng cũng rất “giàu” scandal

Một nghệ sĩ tài ba, một con người được kính trọng từ trong nước đến ngoài nước , nổi tiếng ngay khi ở Hồng Kông, người ta đã thu âm bài “Không” của ông mà mãi sau này ông mới biết . Một con người cần cù, chịu thương chịu khó, nhẫn nhục . Sau mỗi đêm ở một phòng trà ATB , bằng tiếng đàn điêu luyện và truyền cảm, ông đã mang đến niềm vui cho biết bao người nhưng tiền thù lao chỉ vài trăm ngàn . Nhưng ông là một nhân cách mà những kẻ cao ngạo thu nhập vài chục triệu một show diễn không thể so sánh được

Không biết từ bao giờ, trong giới shobiz người ta tụng xưng Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Trần Thu Hà là Diva, Đàm Vĩnh Hưng là “ông hoàng” , còn một thời Hồ Quỳnh Hương và Mỹ Tâm “cãi lộn” nhau xem ai hơn ai , ai có nhiều fan hơn ai . Tất cả hôm nay đã được Nguyễn Ánh 9 hạ bệ không thương tiếc và không may cho họ là ông đã nói đúng, nói rất chính xác

Tôi cũng đã từng viết, từng phê phán Thanh Lam lạm dụng kĩ thuật , uốn éo loạn xì ngầu làm hỏng các bài hát nhưng lại tự cho là mình hay. Một lần vào chợ Đồng Xuân, thấy hai bà bán hàng khô, khi không có khách mở Đài nghe Thanh Lam hát . Đến chỗ uốn éo rú rít bà tắt máy và buông một câu “ Yêu lắm và giận lắm!” Yêu là yêu cái thời kì đầu Thanh Lam hát đầy nội lực và nhiệt huyết nhưng từ khi cô “sáng tạo” kiểu hát riêng ú ú ớ ớ thì họ giận lắm .

Khi Thanh Lam”tuyên chiến” chê Uyên Linh hát không có kĩ thuật, không học hành gì thì tôi biết ngay “trình” của cô này rồi. Khoe mẽ. Mang mấy cái bằng cấp trung cấp, đại học thanh nhạc ra dọa thiên hạ thôi. Nhưng Uyên Linh vẫn đoạt giải Vietnam idol vì cô hát có hồn còn hát không hồn như Nguyễn Ánh 9 nhận xét thì chỉ là sự phô diễn kĩ thuật vô lối mà thôi

Tôi cũng từng viết “con đường nào cho Lê Minh Sơn” khi cặp Sơn –Lam tung hứng nhau . Khi Sơn viết “dân ca đương đại” theo ngợi ca của chính anh và một số nhà báo đang túng quẫn ngôn từ thì tôi nói ngay : Nghe Nguyễn Vĩnh Tiến viết “Bà tôi” còn sướng tai hơn , chứ nhạc của Sơn nó trúc trắc quá , nó “kĩ thuật” nhiều quá và hết “quả ớt” đến “chuồn chuồn”, “cặp ba lá” …rồi cũng cạn nguồn cảm xúc mà sau này chỉ có Thanh Lam hát mà thôi. Thậm chí tôi còn khuyên Sơn đừng sáng tác “dân ca đương đại “ nữa mà cứ triển khai các ngón đàn ghita Flamengo thì sẽ nổi tiếng hơn cả ở Việt nam và có thể cả trên thế giới . Trong thể loại này. Sơn chỉ là học trò nhỏ của Trần Tiến và Nguyễn Cường mà thôi

Tôi có một người bạn hễ khi nào ngồi trên ôtô có bài hát do Đàm Vĩnh Hưng trình bày là bạn tôi chuyển kênh khác . Tôi hỏi sao vậy? Bạn tôi trả lời : Em không thể chịu được giọng hát của “cái thằng này” . Quả thật Hưng hát rất nhiều. Hầu như tất cả các bài hát từ trước đến nay các thế hệ ca sĩ đã hát thì Hưng đều hát, lại có cả một đội ngũ fan hùng hậu vỗ tay tán thưởng –một hình thức PR phổ biến hiện nay và bài nào cũng giống bài nào , cũng vô hồn như bài nào . Có lẽ trên thế giới không có “người hát “ nào hát nhiều bài, ghi âm nhiều bài như Hưng . Không biết Hưng có trả tiền bản quyền cho họ hay không ?

Còn Mỹ Tâm thì nguyễn Ánh 9 viết quá đúng. Tôi cũng chỉ thích một bài duy nhất “Cây đàn sinh viên” vì khi đó cô hát mộc mạc chân chất đi vào lòng các bạn trẻ sinh viên. Còn sau này cô đi Hàn Quốc hát và vũ đạo thì tôi không nghe nữa

Có thể thị hiếu của tôi lạc hậu ?

Trong vấn đề này, ngoài lỗi của các ca sĩ, của người hâm mộ thiếu hiểu biết có một cái lỗi rất lớn là của nhà quản lý văn hóa. Họ đã để cho dòng nhạc thị trường lấn át . Các bài hát nổi tiếng của các ca sĩ tiền chiến hay các ca sĩ hải ngoại về nước trình bày thì bị cấm đoán , phải xin duyệt lên bờ xuống ruộng thậm chí còn dọa phạt. Trong khi đó các bài hát yêu đương, anh anh em em nhảm nhí thì nở rộ như nấm mọc sau mưa và tùy tiện được tung lên sóng phát thanh truyền hình 24h/24h. Không tin bạn cứ mở radio các kênh ca nhạc mà nghe xem tôi nói có đúng không . Mà bây giờ chả cần xin phép, cứ thu âm ghi hình rồi tung lên youtube là có fan ngay

Trong bối cảnh bát nháo của âm nhạc thị trường (ở chỗ này không thấy nói định hướng XHCN) đã làm lệch lạc thị hiếu của giới trẻ thì Nguyễn Ánh 9 –một nhạc sĩ tài năng, một nghệ sĩ chân chính , bằng tiếng nói tâm huyết của mình đã cảnh tỉnh tất cả . Những Thanh lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Hồ Ngọc Hà …nếu khôn ngoan và biết điều thì hãy đến Nguyễn Ánh 9 thụ giáo cả về âm nhạc lẫn đạo làm con, làm trò chứ đừng dại dột ,hỗn hào như cái anh chàng vô học Đàm Vĩnh Hưng thì người người , đời đời cười chê

Tác giả gửi Quê Choa