Lý luận phê bình âm nhạc Hà Nội thập niên đầu thế kỷ XXI: Áo gấm đi đêm

Nguyễn Thị Minh Châu
Lí luận phê bình luôn bị đòi hỏi phải chơi ở vị trí đa năng: đồng hành với sáng tác đã đành, đôi khi còn vượt lên trước để dự báo cho tương lai và lùi lại sau để đánh giá những gì đã qua.

Cứ chiểu theo yêu cầu đó mà xét thì ngành này chưa bao giờ được khen là đạt chuẩn, là mạnh mẽ, kể cả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng, kể cả lí luận phê bình âm nhạc của cả nước hay chỉ riêng Hà Nội, kể cả tiến trình hình thành nền lí luận phê bình âm nhạc hoặc chỉ riêng thập niên đầu thế kỉ XXI.

Lời đánh giá được nghe nhiều nhất trong giới nhạc hiện nay là: các nhà lí luận im hơi lặng tiếng, các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp xa rời thực tế, còn cái gọi là phê bình âm nhạc quá nghiệp dư và lệch chuẩn.

Thực tế có phải vậy không?

Giữa bức tranh đa dạng của âm nhạc Hà Nội, tôi xin tự khoanh vùng trong cái “nhìn lại” chuyên ngành lí luận ở thập niên khởi đầu thế kỉ – một thế kỉ vẫn còn đầy bí ẩn, khó đoán trước, chen lẫn nhiều khát vọng hi vọng với những lo âu phập phồng không chỉ cho đời sống xã hội của đất nước, mà còn cho cả nền văn hóa nghệ thuật nước nhà, cho âm nhạc Hà Nội nói chung và cho riêng ngành lí luận âm nhạc tại thủ đô.

Trước hết thử nhìn lại những gì đã làm được, cũng là để từ đó thấy rõ hơn những gì chưa làm, những khoảnh trống cần bù đắp trong những thập niên tới. Thực lòng tôi rất muốn tránh từ “thành tựu”, bởi trong phong trào chạy theo thành tích ảo hiện nay trong mọi ngành nghề, từ này có mặt trong các văn bản báo cáo các cấp các ngành nhiều đến mức chẳng còn tính thuyết phục, thậm chí còn gây dị ứng cho những người làm nghề một cách trung thực – thực việc, thực tài và thực tâm.

Vốn là đất mạnh về nghiên cứu, Hà Nội cũng là nơi có nhiều đất sống nhất cho lĩnh vực lí luận phê bình âm nhạc. Chỉ riêng hoạt động lí luận âm nhạc thủ đô cũng đủ phác ra những nét chính trong bức tranh toàn cảnh của nền lí luận âm nhạc nước nhà.

Nếu làm một biểu đồ cho nghiên cứu âm nhạc, thì thập niên đầu thế kỉ XXI chắc chắn chiếm đỉnh cao nhất với số lượng đầu sách lớn nhất và chất lượng nội dung phong phú chưa từng có trước đây. Hà Nội có thể tự hào về điều này, bởi riêng sự kiện Thăng Long tròn 1000 năm tuổi cũng đã thúc đẩy không chỉ phong trào viết tác phẩm ngợi ca, mà còn những cuốn sách tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá, biên soạn và giới thiệu thành quả âm nhạc của thủ đô.

Đáng kể nhất về đề tài Hà Nội phải kể đến bộ sách 5 cuốn 1000 năm âm nhạc Thăng Long – Hà Nội (Bộ VH-TT-DL Nxb Âm nhạc, 2010), Ca khúc Hà Nội thế kì XX và những năm đầu thế kỷ XXI (Hội Âm nhạc Hà Nội, 2010). Cũng nhân dịp này các nhà nghiên cứu âm nhạc của thủ đô còn trình làng Tổng tập âm nhạc Việt Nam – Tác giả và tác phẩm (Viện Âm nhạc, 2010). Và, hoành tráng nhất không chỉ riêng trong lĩnh vực lí luận phê bình âm nhạc, mà so sánh với cả lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung, thì phải nhắc đến bộ sách đồ sộ 5 tập 7 cuốn của nhóm tác giả thủ đô: Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu – lí luận – phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỉ XX (Viện Âm nhạc, 2003-2004).

May mắn được tham gia vào nhóm tác giả của tất cả những bộ sách nói trên, tôi thấu hiểu hơn cả nỗi nhọc nhằn và nỗ lực của người trong cuộc. Để có được tiếng nói đại diện cho giới lý luận âm nhạc, để có được những phần viết vừa đảm bảo tính khoa học vừa có tính phổ cập, chúng tôi không chỉ lao tâm khổ tứ mà còn buộc mình tự lớn thêm trước mỗi công trình, để xứng với trách nhiệm mà mình phải gánh lấy.

Chỉ tiếc, công sức viết ra những bộ sách kể trên và cả nhiều cuốn khác ra đời trong thập niên này giá như được độc giả biết đến và được ghi nhận một các xứng đáng. Làm sao có thể đòi hỏi các tác giả mãi tận tâm tận lực vì chất lượng các công trình khoa học nếu thù lao chất xám quá rẻ và không đủ sống? Làm sao khích lệ được các nhà lí luận âm nhạc cứ âm thầm cống hiến nếu những đứa con tinh thần của họ toàn chung số phận tồn kho xếp xó? Chỉ cần các nhà quản lí tháo gỡ được mọi khúc mắc liên quan đến hai câu hỏi trên thôi, cũng đủ tạo nên môi trường đáng ao ước cho ngành lí luận phê bình âm nhạc nước nhà.

Về diễn đàn báo chí âm nhạc ở Hà Nội phải kể đến cánh chim đầu đàn tạp chí Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Một tạp chí chuyên ngành có thâm niên nhất và có uy tín nhất trong suốt những tháng năm khó khăn của thế kỉ XX nay lại phải gồng mình chống chọi với sóng gió của thị trường cạnh tranh báo chí để tồn tại. Tồn tại được đã là kì tích, song trước sự sống còn của tạp chí, với tình cảnh trông chờ vào tài trợ cá nhân và buộc phải đáp ứng cả với thị hiếu đại chúng thì chất lượng rồi sẽ ra sao là điều không dễ trả lời.

Trong lúc tạp chí Âm nhạc cố loay hoay tìm đường hội nhập với đời sống âm nhạc đại chúng, thì vai trò tạp chí chuyên ngành thực sự ở thập niên đầu thế kỉ XXI đã chuyển sang một địa chỉ khác: đó là tờ Thông báo khoa học của Viện Âm nhạc, một tạp chí nghiên cứu âm nhạc nghiêm túc và có uy tín không chỉ trong mà cả ngoài nước (in hai thứ tiếng). Chỉ có điều, từ khi chính thức mang tên Tạp chí Nghiên cứu âm nhạc, ban biên tập lại phải đối mặt với những yêu cầu thực tại, mà đáng tiếc đó có thể là nguyên nhân dẫn đến bước lùi về chất lượng.

Ta vừa điểm qua sách báo chuyên ngành. Còn các chuyên mục âm nhạc của gần 800 báo giấy, 200 đài phát thanh, 200 đài truyền hình, 700 báo điện tử và hàng ngàn website thì sao?

Tiếng nói phê bình chuyên nghiệp trên báo giấy gần như bị chìm nghỉm. Trăm sự vẫn đổ tại ngành lí luận âm nhạc yếu kém. Song công bằng mà nói, vẫn có những bài viết đúng nghĩa với phê bình âm nhạc, chỉ có điều chúng cũng chịu chung số phận của sách phê bình: ế!

Cách làm báo hiện nay nặng về đưa tin, chỉ cần bài viết trước sự kiện chứ không quan tâm tới bài viết sau, vì thế người làm báo càng tha hồ múa bút thì người làm nhạc (lí luận âm nhạc) phần lớn muốn gác bút. Cũng công bằng mà nói thêm về vai trò các nhà báo, phóng viên: trong đa số “làm hàng” quảng cáo, “buôn chuyện” ngoài lề vẫn có những cây bút nghiêm túc, gồng mình đóng thế các nhà lí luận chuyên ngành. Vì thế, dù gì đi nữa thì ngành lí luận âm nhạc vẫn phải cám ơn họ đã xông xáo mang hộ gánh nặng mà lẽ ra các nhà lí luận cần gánh lấy.

Báo hình báo tiếng ngày càng phong phú hơn, bắt gặp nhiều hơn những khuôn mặt chuyên ngành lí luận âm nhạc trong các cuộc đối thoại trên đài phát thanh và truyền hình về những vấn đề nóng, những bất cập trong sinh hoạt âm nhạc. Ít còn hơn không. Tuy nhiên hiệu quả những cuộc trò chuyện đó còn phụ thuộc vào người biên tập chương trình đã đủ bản lĩnh và hiểu biết về âm nhạc hay chưa. Đây chính là lí do một số nhà nghiên cứu kĩ tính không nhiệt tình tham gia các chương trình truyền hình.

Từ lâu Hội Nhạc sĩ rất mong muốn có kênh truyền hình riêng để quảng bá âm nhạc chính thống. Tôi hình dung một kênh truyền hình của “quân ta” như thế chắc chắn sẽ quy tụ được nhiều người làm nhạc, trong đó lực lượng chính hẳn nhiên vẫn là người Hà Nội.

Trong khi chưa biết đến bao giờ thực hiện được ước mơ trên, việc quảng bá “nhạc sạch” hữu hiệu nhất là website. Website Hội Nhạc sĩ đang gồng mình đóng vai trò tờ báo điện tử – tiếng nói chính thức của những người làm nhạc chuyên nghiệp. Ở thời đại công nghệ thông tin toàn cầu, đây là phương tiện tuyệt vời tổng hợp cả chức năng báo giấy – báo hình – báo tiếng, có thể phủ sóng tới mọi nhà cả trong và ngoài nước, nối dài thêm diễn đàn trao đổi của các hội thảo.

Trong những năm gần đây, thay vì tổ chức toàn quốc tốn kém hình thức lớn mà hiệu quả ít, Hội Nhạc sĩ tổ chức hội thảo trong các liên hoan Âm nhạc khu vực mỗi năm khoảng 3-4 lần. Những bài viết trong hội thảo được đăng tải trên website Hội, để cuộc trao đổi có thể tiếp tục với sự tham gia của cả những ai không đến được hội thảo.

Không giới hạn không gian, thời gian và đối tượng, việc tranh luận trên web không chỉ dành cho những người làm nhạc, mà cả công chúng, đặc biệt giới trẻ là đối tượng sử dụng internet như cơm bữa. Chú trọng phát huy thế mạnh của website cũng chính vì sự lan tỏa và sức thu hút của nó đối với tuổi trẻ, bởi một nền âm nhạc sẽ không có tương lai nếu đánh mất công chúng trẻ. Điều mà những người làm web chúng tôi vẫn băn khoăn chính là đối tượng già và nhiều người không còn trẻ gần như không tiếp cận với báo mạng. Đã một năm chuyển đổi từ địa chỉ cũ vnmusic sang phiên bản 3 mà mới đây vẫn nhiều bác chưa già hỏi tôi: vào vnmusic.com.vn sao chẳng thấy bài mới, báo mạng Hội Nhạc sĩ chết rồi à?

Ngay từ khi mới khôi phục cách đây ba năm đến nay, website hoinhacsi.org luôn dành chỗ ưu tiên cho tin tức và hình ảnh của Hội Âm nhạc Hà Nội. Mong mỏi website Hội Âm nhạc Hà Nội sớm ra đời trong năm 2014 để giới làm nhạc và yêu nhạc Hà Nội có thêm một diễn đàn liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Thôi thì trong cảnh con nhà nghèo với nhau, trong khi không đủ kinh phí và nhân lực để làm báo giấy và tạp chí, ta cứ tận dụng công nghệ thông tin để làm báo mạng. Đó là cách khả dĩ nhất hiện nay để quảng bá nhạc sạch và và bớt cảnh “chất xám đi đêm” cho các nhà lí luận phê bình chuyên nghiệp.

Nhìn lại để rồi nhìn tới, tiếp tục hi vọng có một ngày đẹp trời không còn cảnh thù lao yếu và diễn đàn thiếu, một ngày mà Hà Nội có thể tự hào đã góp phần đáng kể nhất cho một nền phê bình âm nhạc đa dạng và đa năng, nhạy bén và chuyên nghiệp, biết phản biện và cảnh báo, biết khuyến khích và gợi mở vì sự phát triển chung của nghệ thuật âm nhạc nước nhà.

28-12-2013

Advertisements

Nhạc sĩ Tô Vũ: “Việt Nam làm gì có phê bình âm nhạc!”

Cả hai ông Viện phó Viện nghiên cứu Âm nhạc Tô Vũ và Trưởng ban lý luận Hội nhạc sĩ Thế Bảo đều có chung nhận định “buồn” rằng Việt Nam không có phê bình âm nhạc. Hiện nay các cây bút có khả năng thì hoặc là tuổi già sức yếu, hoặc bận túi bụi, còn những tay khỏe viết thì lại mù tịt về âm nhạc hoặc chỉ biết lăng xê lẫn nhau để kiếm tiền.

– Tại sao các ông cho rằng Việt Nam chưa có phê bình âm nhạc?

– Tô Vũ: Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại ngại phê bình âm nhạc đến thế. Chỉ có viết giới thiệu nhau, khen tụng nhau. Nếu phê bình thì là theo kiểu đố kỵ, rất ít khi có phê bình nghiêm túc. Ngày xưa, nhờ có lời phê bình của Schumann mà khẳng định được tài năng của J. Bach và Beethoven. Ý nghĩa của phê bình âm nhạc là phục hồi những giá trị mẫu mực của người xưa và tìm ra những hạt ngọc trong đời sống âm nhạc hôm nay. Thế nhưng ở ta, chỉ có nghiên cứu mà không có phê bình. Mà nghiên cứu thì chẳng động chạm ai. Còn phê bình thì gay đấy. Bởi ai cũng đặt sự an toàn lên trên hết.

– Vậy nếu không “ngại”, ông sẽ “phê bình” thế nào về đời sống âm nhạc hiện nay?

– Tô Vũ: Tôi thường nói với các bạn già của tôi rằng có hai việc cần làm. Một là phải chỉ ra thế hệ kế tục lớp nhạc già của chúng tôi. Theo tôi, thế hệ này có 4 nhạc sĩ có thể khẳng định được là Nguyễn Cường, Trần Tiến, Dương Thụ, Thanh Tùng. Họ có nhiều điểm đã vượt được thế hệ đi trước. Về khí nhạc có nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam, một tài năng hiếm hoi trong lĩnh vực này. Cả 5 nhạc sĩ nên được dư luận tập trung đánh giá nhiều về chuyên môn để tìm ra sự kế tục và phát triển. Hai là phải quét rác bằng cách chống sự lăng xê bậy, vạch ra sự ngộ nhận, chống ăn cắp nhạc nước ngoài, đặt ca từ bừa bãi, reo rắc độc hại về tư tưởng, thẩm mỹ. Làm những việc này một cách nghiêm túc và công tâm mới gọi là có phê bình âm nhạc.

– Theo các ông, người làm phê bình âm nhạc phải hội tụ được những yếu tố nào?

– Thế Bảo: Người làm phê bình âm nhạc phải hội đủ những điều kiện: có kiến thức âm nhạc tốt, có nền tảng văn hoá cơ bản vững, có sự nhạy cảm, tinh tế khi thụ cảm tác phẩm, lăn lộn với đời sống âm nhạc và có khả năng diễn đạt bằng ngôn từ. Bởi thế mà nhiều người không dám hoặc không đủ khả năng cầm bút mặc dù được đào tạo cơ bản tại khoa lý luận nhạc viện.

– Theo ông, làm thế nào để có được một đội ngũ phê bình âm nhạc chuyên nghiệp?

– Thế Bảo: Theo tôi, phải bắt đầu từ khâu đào tạo. Hiện nay, công việc đào tạo của chúng ta không ổn. Trong chương trình đào tạo âm nhạc không hề có môn phê bình. Vì vậy, nên lập một viện đào tạo âm nhạc đại chúng và tách khoa dân tộc ra khỏi nhạc viện để thành lập một trường Quốc nhạc. Các viện hoặc trường này phải có khoa lý luận phê bình riêng. Người học nhạc viện thì phải biết phê bình nhạc giao hưởng, thính phòng, còn xuất thân từ trường Quốc nhạc thì phê bình được nhạc dân tộc, tốt nghiệp Viện âm nhạc đại chúng thì phê bình nhạc trẻ, chứ không thể một người có đủ khả năng và thời gian để ôm đồm hết cả.

– Có đủ khả năng để làm phê bình, nhưng tại sao hai ông không trở thành cây bút phê bình âm nhạc chuyên nghiệp?

– Tô Vũ: Tôi chuyên sáng tác và nghiên cứu âm nhạc truyền thống và dân tộc. Vả lại, tôi đã già, không đủ sức khoẻ và thời gian cho công việc phê bình – một công việc đòi hỏi phải dốc sức và làm một cách chuyên nghiệp.

Thế Bảo: Tôi không đủ thời gian để sống với âm nhạc hiện nay. Một tuần tôi phải hướng dẫn 6 người làm luận văn cao học, rồi còn phải dành thời gian viết tác phẩm. Như thế không thể làm phê bình được.

(Theo Thể Thao & Văn Hoá)

BÀN TRÒN: NHÀ PHÊ BÌNH ÂM NHẠC, ANH Ở ĐÂU?

Thứ ba, 20/03/2012

Trần Văn Phúc

Dẫn chương trình (DCT): Xin chào nhà lí luận âm nhạc và nhà báo âm nhạc! Chương trình Bàn tròn Âm nhạc hôm nay mời hai anh tham dự bàn luận về chủ đề “Nhà phê bình âm nhạc, anh ở đâu?”. Xin các anh tự giới thiệu đôi nét về mình với quý độc giả của chương trình.

Nhà lí luận âm nhạc (NLL): Tôi là nhà nghiên cứu âm nhạc, nhưng đôi khi vẫn bị gọi là nhà phê bình âm nhạc.

Nhà báo âm nhạc (NB): Vâng, tôi xin giới thiệu hết sức ngắn gọn như thế này: tôi là một nhà báo đại diện cho tất cả các nhà báo âm nhạc nước nhà hiện nay. Giới nhạc cứ coi tôi là nhà báo, song thực chất chính tôi mới là người làm công việc phê bình âm nhạc.

DCT: Thế còn nhà lí luận âm nhạc, anh có đại diện cho giới phê bình không?

NLL: Tôi chỉ đại diện cho mình tôi, không thể cho ai khác.

DCT: Nhà báo âm nhạc thì tôi thấy nhiều lắm, các anh ở khắp mọi nơi. Còn nhà lí luận âm nhạc, xưa nay anh ở đâu mà tôi ít thấy?

NLL: Tôi ở lĩnh vực của tôi.

NB: Nhà lí luận lẩn khuất ở nơi rất nhiều tài năng ẩn dật, đó là vỉa quặng quý không dễ gì khai thác hết nên anh ấy cũng tự nguyện đứng trong hàng ngũ những kẻ ẩn danh.

NLL: Vế đầu nhà báo nói chính xác, vế thứ hai chưa hẳn đúng.

NB: Theo cách nhìn của cánh nhà báo chúng tôi, các nhà lí luận âm nhạc được đào tạo một cách bài bản, được gắn đủ thứ học hàm học vị, có những bài viết đầy tính hàn lâm học thuật, có những công trình nghiên cứu khoa học đủ các cấp, nhưng chưa hẳn các anh đã có tình yêu âm nhạc mãnh liệt hơn công chúng, chưa hẳn tất cả các anh đã có những hiểu biết sâu rộng về thế giới âm nhạc hơn một số kẻ ngoại đạo vô danh…

DCT: Thưa nhà lí luận, anh muốn nói gì không?

NLL: Cứ để anh ấy nói tiếp xem sao.

NB: Theo lời giới thiệu của nhà lí luận, anh xuất thân là nghiên cứu âm nhạc, vạn bất đắc dĩ các anh mới phải khoác cái áo phê bình chứ cái danh phê bình âm nhạc không làm cho các anh hãnh diện chút nào. Lĩnh vực chính của anh là nghiên cứu âm nhạc chuyên nghiệp, phân tích tác phẩm hàn lâm thuộc lĩnh vực khí nhạc, còn mảng ca khúc quần chúng thì nhà lí luận hầu như không quan tâm.

DCT: Nhà lí luận có đồng ý với nhận xét đó không?

NLL: (Thở dài).

NB: Là một nhà báo phụ trách chuyên mục đưa những thông tin bếp núc của lĩnh vực âm nhạc lên mặt báo, tôi viết rất nhiều bài phê bình. Tôi cho rằng nhà báo và nhà phê bình gần như là một. Rõ ràng hai nhà này có điểm chung, đó là chữ “nhà” để chỉ nghề nghiệp. Người đời không ai gọi chúng tôi là “người viết báo” hay “người phê bình”, mà lại gọi là “nhà”. Chữ “nhà” theo tôi rất hay bởi lẽ: cùng một kiến trúc, nếu động vật không có trí khôn ở trong đó thì gọi là “chuồng”, nhưng con người ở thì được gọi là “nhà”.

So với nhà lí luận âm nhạc, tôi chỉ kém ở chỗ, sau chữ “nhà” anh có tới bốn chữ khác nữa, trong khi tôi chỉ có một. Anh nghĩ sao?

NLL: Anh triết lí hay quá, còn nói thay cả phần người dẫn chương trình! Tôi chẳng dám nói thêm gì.

DCT: Xin hỏi hai anh về hiện trạng phê bình âm nhạc ở ta?

NB: Có một thực tế là các nhà lí luận âm nhạc rất ít khi viết bài phê bình, khi viết lại nặng về phân tích chuyên ngành nên không có người đọc. Điều đó giải thích tại sao nhà lí luận chỉ thỉnh thoảng xuất hiện cho có mặt, cho phải phép. Các nhà phê bình âm nhạc tay ngang phải thế chỗ, bản thân tôi là một ví dụ điển hình. Tôi không được đào tạo một cách bài bản kiến thức âm nhạc như nhà lí luận, nhưng tôi đảm trách công việc bình luận âm nhạc và vì tình yêu âm nhạc mà phải tự mày mò học hỏi.

DCT: Nhà lí luận nghĩ sao?

NLL: Tôi chẳng nghĩ gì cả.

DCT: Anh cho biết các trường âm nhạc chuyên nghiệp có đào tạo chuyên ngành phê bình âm nhạc không?

NLL: Không.

DCT: Chắc phải có bộ môn phê bình âm nhạc chứ?

NLL: Nơi có, nơi không.

DCT: Anh đã từng học khoa nào vậy?

NLL: Khoa Lí – Sáng – Chỉ.

NB: Ồ! Cái tên này tôi đã nghe nhiều rồi, rất chi là Tàu. Theo tôi biết, Học viện Âm nhạc Quốc gia có khoa Lí luận – Sáng tác – Chỉ huy, Học viện Âm nhạc Huế có khoa Sáng tác – Lí luận – Chỉ huy, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh có khoa Sáng tác – Chỉ huy – Âm nhạc học. Cái tên Lí – Sáng – Chỉ gợi cho tôi nhớ đến chuyện nhập rồi lại tách các tỉnh theo đơn vị hành chính năm xưa; ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình nhập làm một lấy tên gọi là tỉnh Hà – Nam – Ninh. Nghe đâu hồi ấy Đắc Lắc, Kon Tum và Plây Cu cũng định sáp nhập lại và lấy tên là Lắc – Kon – Cu?! Vậy xin hỏi nhà lí luận, tại sao vẫn cùng một nội dung đào tạo mà tên gọi ở các trường âm nhạc lại khác nhau như thế?

NLL: Tôi không rõ.

DCT: Xin hai anh cho biết cách tiếp cận một tác phẩm âm nhạc?

NB: Cách đưa tác phẩm âm nhạc đến với công chúng của tôi khác nhau với nhà lí luận. Nói một cách hình tượng, để công chúng hiểu thế nào là biển cả bao la: nhà lí luận mang công chúng vất xuống biển, một lúc sau họ ngạt thở, chết đuối, nếu bơi được vào bờ thì họ trở nên sợ hãi mà xa lánh biển cả. Ngược lại, tôi chỉ việc thu âm tiếng sóng thật hay cho công chúng nghe, hòa muối vào nước sao cho vừa vặn để công chúng nếm, bắt mấy con cá thật đẹp thả vào chậu cho công chúng xem, chẳng mấy chốc công chúng bị biển cả mê hoặc.

DCT: Cụ thể hơn?

NB: Sang năm 2013, NSND Đặng Thái Sơn sẽ biểu diễn 5 bản Concerto của Beethoven ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Giả sử trong buổi hòa nhạc, để chương trình thêm hoành tráng, nhà tổ chức mời giáo sư toán học Ngô Bảo Châu và “nữ hoàng dao kéo” Phi Thanh Vân đến nghe. Theo phép lịch sự tối thiểu giữa hai nhân vật nổi tiếng và là người của công chúng, trong lúc giải lao giữa giờ, Ngô Bảo Châu quay sang nói vài câu xã giao với Phi Thanh Vân.

Tôi chộp được cảnh ấy và có ngay một bài viết với cái tít khá ấn tượng: Ngô Bảo Châu phỏng vấn Phi Thanh Vân trong đêm nhạc Đặng Thái Sơn. Xào lại trên báo khác với một tít khác: Ngô Bảo Châu giảng cho Phi Thanh Vân hiểu thế nào là âm nhạc của Beethoven. Báo khác nữa với tít giật gân hơn: Ngô Bảo Châu chọc tức Phi Thanh Vân trong đêm nhạc Đặng Thái Sơn… Nội dung chủ yếu đề cập đến chuyện bếp núc của giới showbiz, khai thác chi tiết cuộc sống riêng tư của từng cá nhân, không quên nhắc đến những scandal nhằm mục đích câu khách.

DCT: Còn anh, nhà lí luận?

NB: Nhà lí luận chỉ quan tâm giới thiệu âm nhạc Beethoven và nghệ thuật thể hiện của Đặng Thái Sơn. Anh cho rằng trong thời gian ngắn mà Đặng Thái Sơn thuộc làu bao nhiêu vạn nốt nhạc để khi trình diễn không sai đến một phần mười của một nốt, trong khi các ca sĩ thị trường học đi học lại một bài hát có vài chục nốt nhạc mà vẫn không nhớ nổi.

DCT: Thưa nhà lí luận, anh nghĩ sao về nhận xét của nhà báo?

Nhà PBAN: Nghe bảo tháng 12 năm nay trái đất nổ mất rồi!

NB: Cánh nhà báo chúng tôi nổ thì có, chứ theo tôi nghe được thông tin từ các nhà khoa học thì trái đất chưa thể nổ trong năm nay và nhiều năm sau nữa.

NLL: Nếu trái đất chưa nổ thì xin nhà báo cứ tiếp tục.

DCT: Vậy mối quan hệ giữa nhà báo với phê bình âm nhạc là gì?

NB: Khi thông tin âm nhạc đến với công chúng, tôi sử dụng ngôn ngữ đời thường như phép ví von so sánh những khái niệm âm nhạc sơ đẳng, những tư duy trực giác… Tóm lại tôi đang làm công việc của nhà phê bình!

DCT: Có thể gọi nhà báo là nhà phê bình âm nhạc không, thưa nhà lí luận?

NLL: Đấy là nhà báo tự nhận thôi.

NB: Ý anh nói là chúng tôi tự phong cho mình thành nhà phê bình âm nhạc?

NLL: Câu hỏi của anh chính là câu trả lời rồi còn gì.

NB: Anh cho rằng nhà phê bình bắt buộc phải biết sử dụng thuật ngữ âm nhạc chuyên nghiệp, biết phân tích tác phẩm, hòa âm, đối vị, phức điệu… là những môn học bắt buộc phải có thầy dạy mới nắm được kiến thức, phải đầu tư quỹ thời gian đến hàng chục năm mới có được? Hình như anh muốn có một cuộc li dị giữa nhà báo và nhà phê bình?

NLL: Đã kết hôn bao giờ đâu mà nói chuyện li dị.

NB: Vâng, có lẽ tôi nhầm. Nhưng điều này thì tôi đã từng nghe có người nói, lĩnh vực âm nhạc cần có cuộc hôn phối giữa nhà báo với nhà lí luận âm nhạc để sinh ra nhà phê bình âm nhạc.

NLL: Nếu điều này xảy ra thì tôi cầu cho đứa con đó lành lặn.

NB: Từ nãy đến giờ tôi toàn nói thay cho nhà lí luận. Giờ xin được hỏi: anh có nhận xét gì về nhà báo chúng tôi?

NLL: Các anh có nhiều người mắc tội hay nói huếnh lên quá nhiều. Viết báo âm nhạc mà toàn nói những thứ linh tinh ngoài âm nhạc không cần thiết phải nói!

DCT: Vâng, dù có người bị khoác có người muốn khoác cái áo nhà phê bình âm nhạc, nhưng các anh đều đã cung cấp đôi nét về nghề phê bình âm nhạc! Xin cám ơn hai anh về cuộc cuộc trao đổi này. Cám ơn độc giả đã quan tâm theo dõi!

Tôi phê bình “tôi”: Ns Lý luận-Phê bình

Ôi, nỗi niềm nghề phê bình âm nhạc

Thứ năm, 08 tháng 12 2011 09:18   Nguyễn Thị Minh Châu

Mỗi khi được yêu cầu “phát biểu có văn bản”, tôi cứ thấy như được nhắc nhở một mặc định ngầm, rằng: tham luận hay bài viết của người làm công tác lí luận đương nhiên phải đầy tính… lí luận, tức là nếu không đậm chất lí thuyết tầm khái quát, vĩ mô, thì cũng thuộc dạng phân tích học thuật, hoặc ít nhất cũng phải đưa ra được vài lời đánh giá tổng kết đúng giọng chuyên ngành lí luận…

Thực tình, những phát biểu kiểu đó chẳng mấy ai muốn nghe, mà không ai nghe thì e rằng chẳng mấy hữu hiệu. Phản ánh thực trạng, giải pháp và định hướng được nói quá nhiều mà rồi hiệu quả vẫn chẳng được bao nhiêu. Giờ biết nói gì để không “nhai lại” những điều “biết rồi… nói mãi!”?

Thôi thì tôi chỉ xin góp thêm đôi lời nhỏ nhặt về nỗi niềm của người hành nghề phê bình âm nhạc, vì đôi khi dăm ba suy nghĩ vụn và vài câu chuyện vặt tự nó cũng nói lên được gì đó.

Suy nghĩ vụn về những nghịch lý

Vài chục năm gần đây, hầu như năm nào các học viện, nhạc viện và trường nghệ thuật ba miền Bắc – Trung – Nam cũng cho ra lò thêm tân binh bổ sung cho đội quân lí luận âm nhạc. Vậy mà vẫn còn đây đó lời phàn nàn: các nhà lí luận phê bình âm nhạc biến đi đâu sạch để mảng phê bình âm nhạc cứ triền miên “tắt đài, mất điện”. Có nhận định còn thê thảm hơn là: ở ta không thấy bóng dáng đội ngũ phê bình âm nhạc nào hết!

Năm nào Hội Nhạc sĩ cũng kết nạp thêm vài nhà lí luận và con số hơn trăm hội viên chuyên ngành lí luận khéo cũng đủ để lập thành một hội độc lập. Thế mà trong bản tổng kết nhiệm kì nào, ngành lí luận cũng vẫn kiên trì trụ ở điểm yếu nhất trong cái thế kiềng ba chân sáng tác – biểu diễn – lí luận.

So với trước năm 1945 chỉ có 170 đầu báo, giờ ta có đến hơn 700 loại báo, hầu như báo nào cũng có chuyên mục âm nhạc hoặc chuyên mục văn hóa, nghệ thuật hoặc giải trí có liên quan đến âm nhạc. Đó là chưa thể thống kê hết bao nhiêu website chuyên ngành, bao nhiêu blog cá nhân quan tâm đến nghệ thuật âm nhạc. Vậy mà các nhà lí luận vẫn than phiền thiếu diễn đàn múa võ, nhiều khi muốn nói mà chẳng biết nói ở đâu, thành ra đành chấp nhận mang tiếng “mất giọng”.

Những điều nghịch lí như vậy đều có nguyên do nên vẫn cứ tồn tại chưa biết đến bao giờ. Cái “bao giờ” ấy là lúc nào?

Ấy là lúc xóa được cái khoảng cách đáng buồn giữa học với hành, giữa đào tạo lí luận ở nhạc viện với yêu cầu thực tế của đời sống âm nhạc.

Ấy là lúc hoạt động lí luận âm nhạc được “xã hội hóa”, tận dụng được sự đầu tư, hỗ trợ,  hợp lực từ các cơ quan quản lí văn hóa nghệ thuật và các hội chuyên ngành, trung ương cũng như địa phương.

Ấy là lúc luôn có sự kết nối thực sự giữa các nhà lí luận âm nhạc với báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng.

Chuyện vãn về mối quan hệ giữa phê bình âm nhạc và báo chí

Trường đời đã giúp tôi rút ra một công thức: Nhà lí luận âm nhạc + nhà báo = nhà phê bình âm nhạc.

Và tôi cứ ước: giá như có thể nhặt lấy ưu điểm của hai “nhà” đem trộn lại thành một thứ bột để gột nên hồ cho ngành phê bình!

Tiếc là thay vì hợp tác, bù đắp cho nhau thì trong thực tế hai anh này có vẻ kị nhau, coi thường nhau. Nhà lí luận giễu nhà báo nói… phét – càng phét càng lộ sự thiếu hụt kiến thức sơ đẳng về âm nhạc. Anh làm báo chê anh lí luận cầm tinh con rùa, đợi đến lúc cụ cóc mở miệng thì chuyện đã thiu lâu rồi, đã thế lại chuyên dùng giọng dạy dỗ, cao đạo và “khô không khốc”, chả có tờ báo nào muốn đăng.

Tuy không ưa nhau nhưng không thể nói hai “nhà” không cần dựa vào nhau. Dù muốn hay không, bao năm nay nhà lí luận gần như chỉ bận tâm đến vấn đề hàn lâm kinh viện nên cái gánh nặng bình luận ca nhạc đại chúng trên các phương tiện truyền thông đã trút cả lên vai nhà báo. Một khi nhà báo đã phải bao sân, thì mặc nhiên sản phẩm báo chí biến thành đại diện duy nhất cho phê bình âm nhạc. Ai trách cứ gì, nhà lí luận đã có người để tạt bóng sang, và nhà báo đã ôm quả bóng trách nhiệm thì phải chịu bị bắt lỗi thôi.

Đổi lại, nhà phê bình đôi khi cũng là cái cọc bám cho nhà báo. Bí cái gì nhà báo cứ việc a-lô phỏng vấn nhoáng nhoàng, rồi cộng với chút kĩ năng chế biến xào xáo là xong ngay bài phê bình. Đôi khi cậy thế “phương tiện trong tay ta”, nhà báo không đăng bài phân tích của nhà lí luận mà chỉ nhặt ra vài thông tin để chế thành bài bình luận của mình. Và không phải lúc nào nhà báo cũng may mắn với việc sử dụng đúng chỗ đúng nghĩa thuật ngữ chuyên ngành âm nhạc.

Để bắc cây cầu nối đôi bờ xa cách, giữa năm 2011 Hội Nhạc sĩ và Hội Nhà báo đã đồng thành lập Câu lạc bộ Âm nhạc và báo chí. Mở ra một không gian trao đổi kĩ năng làm nghề từ cả hai phía, tạo cơ hội bổ sung cho nhau kinh nghiệm viết phê bình âm nhạc trên báo chí – mong muốn của những người điều hành Câu lạc bộ là thế. Song hiện giờ nhà báo đến đây với thói quen nghề nghiệp vẫn chỉ chăm chắm khai thác tin nóng. Buổi sinh hoạt chung nhiều khi bị biến thành cuộc họp báo chất vấn một chiều. Đến phần cung cấp kiến thức âm nhạc thì số người cần nghe lại vãn hẳn đi.

Thật ra cũng khó mà trách ai nếu như hai “nhà” có cách nhìn nhận khác nhau trước các vụ việc.

Chẳng hạn có lần anh nhà báo gửi cho anh lí luận cả chùm clip nhạc kèm câu hỏi phỏng vấn. Trời đất, choáng váng trước những ca sĩ nhí trên dưới 10 tuổi ăn mặc và đầu tóc y hệt ca sĩ Hàn Quốc, với những động tác kệch cỡm và bài hát còn kệch cỡm hơn, hầu hết là lời lẽ tán gái…, anh lí luận từ chối trả lời anh nhà báo:

– Tôi chịu hết nổi, và tôi không thể nói gì hơn ngoài hai từ: buồn ói!

Đứng từ góc độ báo chí thì không thể bỏ qua hiện tượng bất thường như thế trong đời sống âm nhạc. Anh nhà báo cố khai thác, tổng hợp thật nhiều ý kiến của các hội viên Hội Nhạc sĩ. Các nhà chuyên môn phải kịp thời lên tiếng để ngăn chặn loại “nhạc té ghế” này chứ, cứ để nó tràn lan thế à?

Còn anh lí luận lại lo ngại hậu quả của việc làm rùm beng gây chú ý thêm cho những thứ nhảm nhí rác rưởi. Nhiều người biết đến nó không? Không! Ai biết rồi có thích không? Không! Không có người xem thì tự nó sẽ mau lụi mau tàn thôi. Đồng ý là các cơ quan quản lý văn hóa cần vào cuộc để chấm dứt kiểu kinh doanh trẻ nhỏ như thế. Song hô hào các nhà chuyên môn lớn tiếng mổ xẻ, phân tích, phê phán ầm ĩ trên hàng loạt báo không khéo lại thổi bùng sự việc lên, khiến nhiều người tò mò bỗng dưng cũng muốn coi thử xem thứ nhạc gì mà làm người nghe phải té ghế, buồn nôn. Vô hình trung báo chí lại tiếp tay quảng cáo cho cái “thảm họa V-pop” đó.

Những chuyện vặt kém vui về nghề phê bình âm nhạc có thể kể mãi không hết. Cái nghề dễ đụng chạm, hay mang tiếng, khó viết lách, khó đăng bài và nhuận bút nhỏ nhoi đến mức khó tin thật đấy, nhưng những ai chót đeo đuổi cái nghiệp này vẫn không ngừng trông đợi vào một tương lai sáng sủa hơn – một tương lai mà nếu như được hỏi: “Anh (hay chị) muốn con cái nối nghiệp mình không?” thì nhà phê bình không phải ngại ngần khi trả lời: “Có!”.

Nguyễn Thị Minh Châu (ANVN22/11-2011)

LÝ LUẬN PHÊ BÌNH ÂM NHẠC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LÝ LUẬN PHÊ BÌNH ÂM NHẠC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thứ tư, 20/06/2012

Trần Lệ Chiến

Trong hàng chục thập kỷ qua, để có được sự phát triển lớn và mạnh của nền âm nhạc Việt Nam là có phần đóng góp không nhỏ cả tâm lực, tài năng của nhiều thế hệ những người làm công tác âm nhạc, trong đó có các nhạc sĩ, nghệ sĩ, những người làm công tác đào tạo và những người làm công tác nghiên cứu lý luận phê bình âm nhạc. Trong bốn nhà âm nhạc thì dường như người làm công tác nghiên cứu âm nhạc mà ta gọi là lý luận phê bình âm nhạc ít được biết đến, ít được quan tâm và hiểu một cách đúng nghĩa.

Với tư cách của một người được đào tạo và tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lý luận phê bình âm nhạc tại Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện âm nhạc Quốc gia), đồng thời tôi cũng đã tốt nghiệp Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành báo chí. Từ hiểu biết của bản thân, tôi cũng mạo muội xin được chia sẻ những suy nghĩ của mình xung quanh vấn đề về Lý luận phê bình âm nhạc.

1. Đôi điều mạn đàm về Lý luận phê bình âm nhạc:

Có hay không một nhà lý luận phê bình âm nhạc? Phải hiểu thế nào cho đúng về nhà lý luận âm nhạc?

Có người đã hiểu chưa thật đầy đủ về nghề lý luận phê bình âm nhạc. Và bản thân tôi nghĩ rằng không phải cứ tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lý luận là tự gắn mình với tên gọi “nhà Lý luận phê bình âm nhạc”.

Đã là một nhà lý luận phê bình âm nhạc, ngoài bằng cấp, còn cần phải có một quá trình nghiên cứu, sưu tầm và tham gia viết dưới nhiều hình thức khác nhau. Và tuy nhiên để làm được điều đó cần phải có thời gian, sự tâm huyết và rất nhiều yếu tố khác nữa. Thực tế trong nhiều năm qua, tại các cuộc tổng kết hoạt động văn học nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, nhiều người nhận định rằng: “Công tác nghiên cứu lý luận phê bình chưa có tiếng nói, thiếu vắng những cây phê bình sắc bén” và có cả những nhận xét: “Công tác lý luận phê bình yếu kém”. Riêng cá nhân tôi cho rằng việc đánh giá này chưa đầy đủ và chưa rõ ràng, bởi đã là công trình nghiên cứu thì không thể đặt bút là viết, mà cần phải có quá trình đi thu thập tư liệu, thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, chứng mình mới có một bản thảo tốt và từ bản thảo chuyển sang thành sách là cả một vấn đề. Vậy mà hàng năm chúng ta vẫn có những công trình lý luận lớn, nhỏ được công bố, nghĩa là công tác nghiên cứu lý luận phê bình không hề vắng bóng.

Chúng ta ai cũng biết, để quảng bá một ca khúc đã là một việc làm khó đối với đời sống của rất nhiều nhạc sĩ, thì đối với một công trình nghiên cứu còn khó hơn nhiều. Đó là một thực tế đau lòng khi làm nghề mà những đứa con tinh thần của mình đã không thể ra mắt đồng nghiệp, bạn đọc.

Như vậy ở đây đã cho thấy đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng còn chưa thực sự đáp ứng được đòi hỏi của công tác nghiên cứu lý luận. Và vì thế, chỉ một số rất ít công trình được xuất bản, trong khi còn biết bao công trình nghiên cứu đang nằm trong ngăn tủ tại các tư gia.

Một khía cạnh khác của người làm công tác lý luận phê bình là: bên cạnh những công trình lý luận, thì họ còn góp sức trong việc sưu tầm, làm công tác khoa học tại các viện nghiên cứu, trong các tổ chức chính trị nghề nghiệp, nhưng vì tính chất công việc mà họ ít được công chúng biết tới, chỉ có người trong nghề, nói đúng hơn là những đồng nghiệp biết đến họ và công việc của họ mà thôi. Điều này được minh chứng bởi tất cả những di sản văn hóa phi vật thể được Tổ chức văn hóa khoa học giáo dục của LHQ công nhận trong những năm qua đều có phần đóng góp tích cực của những nhà nghiên cứu lý luận phê bình âm nhạc, những người làm công tác âm nhạc chuyên nghiệp trong việc nghiên cứu, sưu tầm, lập hồ sơ và có những bản thuyết trình đầy sức thuyết phục để nhận được sự đồng thuận của các thành viên bỏ phiếu cho các di sản của Việt Nam trở thành di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Cùng với đó là số lượng lớn những người làm công tác lý luận trong môi trường sư phạm. Có thể họ không có nhiều công trình nghiên cứu nhưng họ lại đóng góp vào những đề tài khoa học, có sáng kiến, cải tiến trong việc biên soạn giáo trình giảng dạy, đào tạo ra nhiều thế hệ những nhà lý luận phê bình tương lai.

Một lực lượng cũng đáng kể nữa hiện đang công tác tại các cơ quan phát thanh và truyền hình. Họ đã và đang thực hiện các chương trình âm nhạc chuyên đề mang tính học thuật, không chỉ là định hướng thẩm mỹ cho người nghe, người xem mà còn hướng tới đối tượng là những người làm âm nhạc chuyên nghiệp.

Như vậy, đội ngũ những người làm công tác lý luận phê bình âm nhạc không phải là ít, họ trải đều trên các mặt trận. Tuy nhiên điều tôi trăn trở, suy nghĩ chính là lực lượng những người viết báo trong lĩnh vực âm nhạc.

2. Báo chí và âm nhạc – nên hiểu thế nào cho đúng về nhà báo viết về âm nhạc hay Nhà lý luận âm nhạc.

Nếu là người làm nghề thì không phải giải thích về cụm từ này, nhưng thực tế của đời sống xã hội, người ta đã gộp hai nhà này làm một. Chính điều này đã có ảnh hưởng không nhỏ tới việc định hướng dư luận, định hướng về nhận thức, tư tưởng, thẩm mỹ đối với công chúng thưởng thức trong xã hội đầy biến động.

Thực trạng cho thấy, tại nhiều tòa soạn báo, nhiều đơn vị hoạt động trong lĩnh vực truyền thông có rất nhiều người chuyên viên về văn học nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng nhưng lại không có chuyên môn, chứ chưa nói gì đến việc có được đào tạo để viết lý luận phê bình hay không? Thậm chí họ cũng chẳng được đào tạo báo chí, có khi viết báo chỉ là tay ngang, lâu dần thành quen và cứ bạt mạng viết, bạt mạng phán những gì mà bản thân họ thấy thích và cho là đúng (từ quan niệm và nhận thức của chính bản thân họ).

Điều đáng nói, lực lượng những người viết báo về âm nhạc lại là một lực lượng hùng hậu. Họ thỏa sức viết về âm nhạc, bàn luận về âm nhạc mà không hề nghĩ đến hậu quả để lại từ những bài báo thiếu tính lý luận, không có chút hiểu biết về học thuật, thậm chí không có cả nghề báo nhưng họ vẫn viết, vẫn làm vì công tác quản lý buông lỏng, lãnh đạo cơ quan chủ quản quan liêu, các tổ chức chính trị nghề nghiệp chưa hoặc có lên tiếng cũng không gay gắt do sợ động chạm khi có nhiều vấn đề được các nhà báo không chuyên nghiệp đưa ra mổ xẻ một cách lố bịch trên các diễn đàn báo chí, các trang mạng xã hội. Chính vì thế, mảng âm nhạc trên báo chí với một lực lượng nhà báo trẻ, hùng hậu (thậm chí chỉ là những sinh viên thực tập, những cộng tác viên) cứ tha hồ tung hoành với những chuyện giật gân, những scandal, đời tư ca sĩ, nghệ sĩ được bê cả lên mặt báo). Vậy cái tâm của nhà báo ở đâu? Và như thế có thể coi đó là phê bình âm nhạc được hay không? Như vậy, báo chí không những không làm tròn xứ mệnh của mình mà còn đang làm phức tạp, làm xấu thêm tình hình và làm lũng loạn thị trường, thổi bùng lên những tị hiềm, nhỏ nhen, ích kỷ của một bộ phận giới trẻ hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc, gây hiệu ứng không tốt tới đời sống xã hội.

Ranh giới giữa nhà báo viết về âm nhạc và nhà phê bình âm nhạc rất rõ ràng, nhưng có lẽ chỉ những người làm nghề chuyên nghiệp nhận biết rõ ràng điều này, còn thì vô hình chung họ đã quy chụp những cái gì viết về nhạc trên các phương tiện truyền thông đại chúng là phê bình âm nhạc và những nhà báo viết về âm nhạc là lý luận phê bình âm nhạc.

Những người làm lý luận phê bình đích thực không phải vì không được đào tạo báo chí nên ngại viết báo, nhưng hầu như họ mới chỉ dùng lại ở những bài nghiên cứu, hoặc những bài viết nặng về tính học thuật được đăng tải trên những tạp chí chuyên ngành, một số cơ quan phát thanh, truyền hình. Cá biệt có một số nhà lý luận phê bình cho rằng họ ở “một tầng lớp khác” và vì thế họ có nhiều việc để làm, để viết, họ không thừa thời gian dành cho những điều “mà họ cho là” vớ vấn, vô bổ, thậm chí thiếu văn hóa trên báo chí. Trong khi đó, những người làm báo viết âm nhạc thì lại nhiều vô kể và số này hầu hết là không được đào tạo âm nhạc nhưng vẫn lao vào viết vì âm nhạc và giới văn nghệ sĩ là mảnh đất họ dễ kiếm sống. Họ chỉ cần có bài viết, có nhuận bút chứ không nghĩ đến việc mình làm gì, làm như thế nào mang lại ý nghĩa xã hội tích cực. Đáng tiếc thay, nhiều nhà báo lại nghĩ mình tài giỏi hơn người, dám viết vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi cho rằng “điếc không sợ súng” đã khiến họ tha hồ tự tung, tự tác trên các diễn đàn và giở những chiêu, trò, thủ thuật báo chí làm lũng loạn thị trường âm nhạc, dẫn đến lệch chuẩn về nhận thức, thẩm mỹ của công chúng, nhất là lớp trẻ. Những bài báo chưa có, hoặc ít có bề dày về lý luận, về học thuật, không có cơ sở lý luận vững chắc trong phê bình, mà chỉ phê bình bằng cảm tính – chủ quan, nên khen, chê cũng cũng còn nhiều điều cần bàn, nhiều khi sử dụng ngôn từ đời thường thiếu văn hóa và tính nhân văn đang ngày càng phổ biến, tràn lan trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đó là lý do khiến cho vì sao trên các phương tiện thông tin đại chúng, những vấn đề liên quan đến âm nhạc mang tính lý luận, thực tiễn gắn với đời sống xã hội ít được quan tâm đúng mức.

3. Thực trạng và giải pháp

Lĩnh vực âm nhạc trên báo chí cho thấy một thực tế báo động về công tác quản lý hết sức lỏng lẻo của các cơ quan chức năng đang góp phần để cho thị trường âm nhạc nói chung, báo chí viết về âm nhạc và cả thị trường băng đĩa không lành mạnh tràn lan. Nếu không có sự buông lỏng, không có sự bao che liệu các nhà báo có tự tung tự tác trên các diễn đàn được như thế hay không? Các nhà mạng có thỏa sức đăng tải những video clip thiếu văn hóa như thế lên các trang mạng, chứ chưa nói gì đến tính nghệ thuật? Vì không có sự kiểm duyệt gắt gao, không có chế tài đủ mạnh nên họ ngày càng coi thường bạn đọc, coi thường dư luận xã hội, tha hồ tâng bốc,  tôn vinh bất cứu ai họ muốn lăng xê cho dù người đó không có tài năng, thậm tệ hơn là có những “thành phần” nghĩ những thứ “ rác rưởi” ấy coi đó là nghệ thuật, là văn hóa, là sự cống hiến… và đưa lên các phương tiện truyền thông mà chủ yếu là các trang mạng. Và cứ thế đĩa nhạc của họ ra đời và mặc nhiên họ mang danh là “nhạc sĩ”, bài viết của họ được đăng tải lâu dần họ tự đặt mình vào giới phê bình âm nhạc.

Các cơ quan xuất bản, báo chí, phát thanh, truyền hình là công cụ tuyên truyền, cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, ấy vậy mà, nhiều đơn vị, nhiều chương trình, công việc kiểm duyệt, thẩm định gần như thả nổi. Trong khi trình độ chuyên môn của một số cơ quan phát thanh, truyền hình còn rất hạn chế, nhất là ở các đài địa phương. Có những bài báo, chương trình kém chất lượng, thiếu định hướng và không có sự công tâm của người viết tại sao vẫn được đăng tải? Lỗi ở nhà báo một phần nhưng trách nhiệm cũng thuộc về những người quản lý tòa soạn. Đặc biệt hiện nay khi công nghệ thông tin bùng nổ, phương tiện kỹ thuật hiện đại đã kéo theo một trào lưu sáng tác mới nào là nhạc sàn, nhạc chế, nhạc chuông, nhạc chờ mà toàn những thứ được làm từ công nghệ, máy móc chứ không phải sản phẩm làm ra bằng trái tim, khối óc và bằng xúc cảm nghệ thuật. Nhiều khi khiến người nghe “sởn da gà” bởi thứ âm nhạc giật gân, lời lẽ thô tục, thiếu tính văn học.

Đáng lẽ âm nhạc phải khiến con người ta thăng hoa khi cảm xúc được cộng hưởng, đằng này nghe nhạc mà nó khiến con người không thể xích lại gần nhau bởi chỉ toàn thấy gươm,đao, giáo, mác với những lời lẽ thô thiển, kệch cỡm …Vậy thử hỏi, vai trò của những người lãnh đạo văn hóa ở đâu??? Họ đã và đang làm gì để định hướng dư luận, để góp phần vào sự phát triển của đất nước, hay chỉ đưa ra những quy chế, quy định làm rối ren, trong khi chúng ta đang cải cách thủ tục hành chính. Chính sự quan liêu, buông lỏng quản lý nếu không muốn nói quá “là vô trách nhiệm” của một vài cá nhân ở những vị trí lãnh đạo quan trọng là một trong những nguyên nhân góp phần đẩy môi trường âm nhạc ngày một “ô nhiễm” thêm trầm trọng.

Vì thế tôi xin đề xuất mấy kiến nghị:

Thứ nhất: Bộ thông tin truyền thông cần có chế tài xử phạt rõ ràng, đủ mạnh và nghiêm minh. Cần xây dựng lộ trình và lập ban thanh tra để xử lý tình huống khi cần.

– Thứ 2: Cần xây dựng và có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu lý luận, không hạn chế số lượng, nhất là đối với các công trình nghiên cứu về văn hóa, âm nhạc dân gian. Vì điều này rất cần cho việc bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc.

– Thứ 3: Cần xử phạt nghiêm, thậm chí cấm phát hành nếu tờ báo, trang báo điện tử nào vi phạm luật báo chí, xuất bản và quảng bá các sản phẩm văn hóa có ảnh hưởng không tốt tới việc định hướng tư tưởng, thẩm mỹ, nhận thức, lối sống của đại bộ phận công chúng trong xã hội.

-Thứ 4: Trong lĩnh vực đào tạo, cần có sự can thiệp, hoặc liên kết chặt chẽ giữa các trường để môn âm nhạc nói riêng, văn học nghệ thuật nó chung trở thành một chuyên ngành lựa chọn của các nhà báo tương lai. Vì chỉ khi họ được học, được tiếp cận một cách đầy đủ thì khi ra trường họ mới hiểu và có cái nhìn đúng.

-Thứ 5: Các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp cần đẩy mạnh các hoạt động của tiểu ban lý luận phê bình. Có sự liên kết của các khối lý luận phê bình ở các cơ quan đơn vị hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp để tạo nên sức mạnh tổng hợp.

Tôi cũng rất vui vì sự ra đời của Câu lạc bộ Âm nhạc và báo chí của Hội Nhạc sĩ Việt Na,, nhưng vì là mới thành lập nên trong hoạt động cũng còn nhiều điểm còn cần bổ sung mở rộng phạm vi hoạt động, mở rộng đối tượng tham gia sinh hoạt câu lạc bộ nhưng cũng cần có chế tài và quy trách nhiệm và phạm vi hoạt động, tránh trường hợp mượn danh là Hội viên của Câu lạc bộ Âm nhạc và báo chí của Hội để lộng hành trên các diễn đàn.

Thay cho lời kết:

Rất cần có những cuộc hội thảo, mặc dù, các hội thảo mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên vấn đề và những thực trạng tồn tại cần được giải quyết. Vẫn biết không phải một sớm, một chiều là có thể giải quyết tận gốc vấn đề vì có nhiều nguyên nhân mà mốc chốt vấn đề chính là cơ chế. Từ cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, cơ cấu tổ chức v.v. đã có tác động đến tất cả mọi lĩnh vực, mọi vấn đề của xã hội chứ không chỉ riêng lĩnh vực âm nhạc. Và những cuộc Hội thảo chẳng khác nào “muối bỏ bể” nhưng có vẫn còn hơn không. Vì nếu không có hội thảo, những người hoạt động âm nhạc và báo chí như chúng tôi sẽ chẳng biết chia sẻ cùng ai…